vanban.org

Bản án 19/2019/DS-PT — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

TAND tỉnh Bình Phước Tuyên án 18/03/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 18/03/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Ngô Thị T. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 16/2018/DS-ST ngày 10 tháng 8 năm 2018 của Toà án nhân dân huyện B; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe và tài sản"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 604 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2019/DS-PT
Ngày: 18-3-2019
V/v yêu cầu bồi thường thiệt hại về
sức khỏe và tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán –Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhân

Các Thẩm phán:

Bà Đinh Thị Quý Chi

Bà Lê Hồng Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Đào - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước: Ông Bùi Văn Thi - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 18 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 96/2018/DSPT ngày 01 tháng 10 năm 2018 về việc “Yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe và tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 16/2018/DS-ST ngày 10 tháng 8 năm 2018 của Toà án nhân dân huyện B bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 114/2018/QĐPT-DS ngày 25 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Ngô Thị T, sinh năm: 1979

Địa chỉ: Thôn 2, xã A, huyện B, tỉnh Bình Phước.

2. Bị đơn: Ông Lê H, sinh năm: 1981

Địa chỉ: Thôn 2, xã A, huyện B, tỉnh Bình Phước.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Công B, sinh năm 1977

Địa chỉ: Thôn 2, xã A, huyện B, tỉnh Bình Phước.

4. Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Ngô Thị T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 28/11/2017, và trong quá trình giải quyết vụ án, bà Ngô Thị T trình bày:

Vào ngày 29 và 30/8/2016 tại xã A, huyện B, tỉnh Bình Phước có một đối tượng là người nhà của ông Lê H và 3 đối tượng khác được ông Lê H thuê để chặn xe khách của gia đình gồm: Trần Văn C, Lê Thị Bích P, Nguyễn Thị Thu H, Lê Thị Mỹ H, Trần Thị Ngọc Đ, Nguyễn Ngọc T và một người tên Tý; trú tại Thôn 2, xã A, huyện B, tỉnh Bình Phước; Dương Công T, trú tại Thôn 2, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước cùng ông Lê H1 là tu sĩ chùa Trúc Lâm Di Đà thuộc xã A, huyện B, tỉnh Bình Phước dùng gậy gộc, tuýp sắt và 02 xe khách loại 29 chỗ ngồi chặn xe khách của gia đình bà. Trong lúc các đối tượng này chặn xe khách của gia đình bà thì ông Lê H cầm rựa chạy lên chỗ những người nêu trên để tiếp ứng. Trên đường đi ông Lê H gặp bà, bà nghĩ ông Lê H cầm rựa đi gây án nên bà lấy điện thoại ra chụp hình lại để làm chứng cứ, nếu có xảy ra chuyện ngoài ý muốn vì trước đây vào năm 2014 ông H cũng đã thuê 04 người đánh con bà là học sinh lớp 7 bị thương nặng nhưng không có nhân chứng nên đã gặp rất nhiều khó khăn khi cơ quan Công an làm việc. Khi thấy bà ghi hình ông Lê H đã giằng lấy điện thoại của bà nhưng không được, ông Lê H xô bà ngã từ trên xe xuống, đạp, đá vào bụng, ngực, hông, tay của bà nhưng vẫn không lấy được điện thoại. Sau đó ông H dùng cây rựa đánh vào cánh tay của bà, bà không đủ sức chống cự nên kêu cứu, sau dó nhiều người đến thì ông H mới bỏ chạy theo hướng chỗ mấy người chặn xe khách của gia đình bà. Khi thấy Công an huyện làm việc thì ông H bỏ về.

Sau đó bà T được gia đình thuê xe chở đi cấp cứu tại Bệnh viện Binh đoàn 16 và bà đã làm đơn gửi đến cơ quan Công an huyện B, tỉnh Bình Phước để yêu cầu giải quyết vụ việc.

Ngày 06/2/2017 Công an huyện B ban hành thông báo số 81/TB về việc không khởi tố vụ án hình sự.

Ngày 10/11/2017 Công an huyện B ban hành thông báo số 849/TB về việc thông báo kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố.

Công an huyện B hướng dẫn bà làm thủ tục khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện B để yêu cầu giải quyết các chi phí thiệt hại về sức khỏe và tinh thần. Nay bà T yêu cầu ông H bồi thường thiệt hại về sức khỏe và tinh thần do hành vi của ông H gây ra cụ thể:

Tiền thuê xe cấp cứu ngày 30/8/2016: 1.300.000đồng.

Tiền viện phí: 900.000đồng.

Tiền ăn uống của người bệnh, người chăm sóc: 300.000 đồng/người/ngày/2 ngày là 600.000đồng.

Tiền mất thu nhập do đi cấp cứu và người chăm sóc 300.000đồng/ người/ngày/2 ngày là 600.000đồng.

Ngày 02/11/2016:

Tiền viện phí, thuốc 1.700.000đồng.

Tiền ăn uống trong ngày người bệnh, người chăm sóc: 300.000 đồng/người/ngày/2 ngày là 600.000đồng.

Tiền thuê xe tái khám 1.800.000đồng.

Tiền mất thu nhập do đi tái khám cho người bệnh và người chăm sóc 300.000đồng/ người/ngày/2 ngày là 600.000đồng

Ngày 07/9/2016:

Tiền viện phí, khám 700.000đồng

Tiền ăn uống của 2 người/150.000đồng là 300.000đồng.

Tiền mất thu nhập do đi tái khám cho người bệnh và người chăm sóc 300.000đồng/ người/ngày/ 2 ngày là 600.000đồng

Tiền thuê xe 600.000đồng.

Ngày 20/6/2017 tái khám tại Trung tâm y tế Thị xã Đồng Xoài :

Tiền viện phí, thuốc 500.000đồng.

Tiền ăn thuê xe đi, tiền thu nhập thực tế bị mất: 1.300.000đồng.

Ngày 29/11/2016 đi giám định thương tích:

Tiền phí là 1.490.000đồng

Tiền ăn uống của 2 người/ 300.000đồng là 600.000đồng

Ngày 12/7/2017 đi tái khám và điều trị tại Bệnh viện y học cổ truyền:

Tiền viện phí, khám, thuốc 700.000đồng.

Tiền thuê xe 500.000đồng.

Tiền ăn uống 300.000đồng/ngày/2 người.

Tiền mất thu nhập do đi tái khám cho người bệnh và người chăm sóc 300.000đồng/ người/ngày/2 ngày là 600.000đồng.

Tiền mua kem bôi chống sẹo 10 lọ/55.000đồng là 550.000đồng.

Tiền sửa xe môtô do bị hư hỏng 2.900.000đồng.

Thiệt hại do ảnh hưởng đến kinh doanh xe khách.

Từ ngày 29 -30/8/2016 ông Lê H đã thuê người chặn xe rồi cho người hăm dọa lấy mạng sống của bà nên nếu bà tiếp tục cho xe khách chạy trong thời gian chờ đợi cơ quan chức năng làm việc gia đình bà không dám chạy xe nên gia đình bà phải thuê tài xế chạy, thời gian thuê 14 tháng cụ thể: Thuê ông Nguyễn Anh T thời gian 14 tháng mỗi tháng 6.000.000đồng tổng số tiền thuê là 84.000.000đồng. Còn 02 xe khách đưa đón học sinh phải thuê tài xế và hưởng theo % do đó tổn thất trong thời gian 14 tháng là 10.000.000đồng.

Số tiền bồi thường tổn thất tinh thần cho bà là 10 tháng lương tối thiểu 12.500.000đồng.

Tổng cộng bà T yêu cầu là 126.540.000đồng. Ngoài ra không có yêu cầu gì khác.

Trong quá trình giải quyết vụ án ông Lê H đã được Tòa án nhân dân huyện B cấp tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự, tuy nhiên ông Lê H từ chối tham gia tố tụng nên không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số 16/2018/DS-ST ngày 10 tháng 8 năm 2018 của Toà án nhân dân huyện B đã quyết định:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ngô Thị T: Buộc ông Lê H phải có nghĩa vụ bồi thường cho bà T số tiền 1.300.000 đồng thuê xe ngày 30/8/2016; Số tiền 600.000đồng thuê xe ngày 07/9/2016; Số tiền 120.000 đồng mua thuốc ngày 01/9/2016; Số tiền 50.000 đồng siêu âm ngày 07/9/2016; Số tiền 15.000 đồng công khám ngày 07/9/2016; Số tiền 115.000 đồng chụp X Quang ngày 01/9/2016; Số tiền 600.000 đồng mất thu nhập của hai ngày (01/9/2016; 07/9/2016) đi khám bệnh. Tổng cộng số tiền ông H phải bồi thường cho bà T là 2.800.000 đồng (Hai triệu tám trăm ngàn đồng).

Bác yêu cầu khởi kiện của bà T về việc yêu cầu ông H bồi thường thiệt hại số tiền 94.000.000 đồng do ảnh hưởng đến kinh doanh xe khách.

Bác yêu cầu khởi kiện của bà T về việc yêu cầu ông H phải bồi thường thiệt hại số tiền 2.900.000 đồng sửa chữa xe mô tô.

Bác yêu cầu khởi kiện của bà T về việc yêu cầu ông H bồi thường số tiền 12.500.000 đồng tổn thất về tinh thần.

Bác yêu cầu khởi kiện của bà T về việc yêu cầu ông H bồi thường cho bà T số tiền chi phí khám chữa bệnh của bốn ngày 02/11/2016; 29/11/2016; 20/6/2017; 12/7/2017 với tổng số tiền là 11.840.000 đồng.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.

Ngày 14/8/2018, nguyên đơn bà Ngô Thị T có đơn kháng cáo không đồng ý với Bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện B. Đề nghị Tòa cấp phúc thẩm xem xét lại mức bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bà T vì quá thấp, đồng thời xem xét lại vấn đề thiệt hại trong hoạt động kinh doanh xe khách vì gia đình bà T phải thuê tài xế chạy xe vì ông H có hành vi đe dọa làm cho gia đình bà không trực tiếp kinh doanh được.

Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, bà Ngô Thị T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Công B đề nghị Tòa án xem xét giải quyết đối với hành vi của những người tham gia chặn xe khách của gia đình bà gồm anh Trần Văn C, chị Lê Thị Bích P, chị Nguyễn Thị Thu H, chị Lê Thị Mỹ H, chị Trần Thị Ngọc Đ, anh Nguyễn Ngọc T, anh Dương Công T, ông Lê H1 ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của bà T và ông B. Tuy nhiên tại phiên tòa ngày 18/3/2019 bà T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết thoả đáng, tăng mức bồi thường thiệt hại để đảm bảo quyền và lợi ích của bà T. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Công B thống nhất ý kiến của bà T.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát xét xử phúc thẩm tại phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, kể từ khi thụ lý vụ án và tại phiên toà, Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Ngô Thị T, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Ngô Thị T; Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về tố tụng:

Đối với tư cách tham gia tố tụng của ông Trần Công B: Ngoài yêu cầu khởi kiện ông Lê H bồi thường về sức khỏe, bà Ngô Thị T còn khởi kiện yêu cầu cầu ông H bồi thường thiệt hại do ảnh hưởng đến việc kinh doanh xe khách của gia đình bà T. Việc này có liên quan đến quyền và lợi ích của ông Trần Công B (chồng của bà T) nhưng Tòa cấp sơ thẩm không đưa ông B tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là thiếu sót. Tuy nhiên tại cấp phúc thẩm ông B đồng ý để Tòa cấp phúc thẩm đưa ông vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để bảo vệ quyền và lợi ích của mình. Đồng thời ông B hoàn toàn đồng ý với yêu cầu của vợ ông B là bà Ngô Thị T và không có ý kiến gì về việc cấp sơ thẩm không đưa ông vào tham gia tố tụng nên không cần thiết phải hủy án sơ thẩm.

Về nội dung:

Do có mâu thuẫn trong việc chạy xe đưa rước học sinh nên ngày 30/8/2016 tại thôn 1, xã A, huyện B, bà Ngô Thị T và ông Lê H đã xảy ra xô xát. Ông H đã dùng con dao rựa bằng tay phải chém bằng sống dao 01 cái trúng tay trái của bà T. Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 321/2016/TgT ngày 30/11/2016 của Trung tâm giám định y khoa – Pháp y tỉnh Bình Phước kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên cho bà T hiện tại là 0%. Mặc dù, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện B ra thông báo số 302/CAH – CSĐT ngày 06/02/2017 và thông báo số 81/TB ngày 10/11/2017 về việc không khởi tố vụ án hình sự do hành vi dùng hung khí nguy hiểm chém người khác gây thương tích 0% của ông Lê H không đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điều 104 của Bộ luật hình sự, nhưng việc ông H dùng sống dao chém vào tay trái bà T hậu quả đã làm bà T phải đi khám chữa trị và chi phí cho việc khám chữa bệnh là những thiệt hại thực tế do hành vi trái pháp luật của ông H gây ra. Do đó, cần phải buộc ông H có nghĩa vụ bồi thường đối với các chi phí thiệt hại hợp lý cho bà T là phù hợp, đúng quy định của pháp luật.

Xét yêu cầu kháng cáo của bà T cho rằng: Mức bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bà T là quá thấp, Hội đồng xét xử xét thấy: Ngay sau khi xảy ra việc ông H dùng sống dao chém trúng tay bà T vào ngày 30/8/2016 thì bà T đã thuê xe đi khám vết thương tại Bệnh viện Quân dân y– Binh đoàn 16 với số tiền 1.300.000 đồng và bỏ ra chi phí khám và mua thuốc vào ngày 01/9/2016, cụ thể: Tiền chụp X Quang 115.000 đồng (Bút lục 124); tiền mua thuốc 120.000 đồng (Bút lục 117) và các khoản tiền tái khám bệnh theo chỉ định của bác sỹ vào ngày 07/9/2016 gồm: Tiền thuê xe 600.000 đồng; tiền siêu âm 50.000 đồng (Bút lục 119); tiền công khám 15.000 đồng (Bút lục 120); ngoài ra tiền mất thu thập của bà T trong hai ngày đi khám bệnh (Ngày 01/9/2016 và ngày 07/9/2016) là 600.000 đồng. Tổng cộng các khoản tiền là 2.800.000 đồng. Theo biên bản xác minh ngày 13/6/2018 tại Bệnh viện quân y 16 thì “bà T bị thương chưa tới mức phải nằm viện điều trị mà chỉ kê đơn thuốc về nhà uống hẹn tái khám khi có bất thường. Ngày 07/9/2016 bà T tới tái khám, sau khi được tái khám thì bệnh nhẹ, không phải điều trị, không có chỉ định tái khám...”. Do đó với yêu cầu bồi thường của bà T về các khoản chi phí cho việc khám chữa bệnh các ngày 02/11/2016; 29/11/2016; 20/6/2017; 12/7/2017 với tổng số tiền là 11.840.000đ là bà T tự đi khám và các bệnh này cũng không liên quan đến vết thương do ông H gây ra nên các khoản chi phí này không có căn cứ chấp nhận. Tòa cấp sơ thẩm xác định thiệt hại thực tế về sức khỏe do hành vi của ông H gây ra cho bà T là 2.800.000 đồng là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật.

Đối với yêu cầu xem xét lại số tiền bồi thường thiệt hại ảnh hưởng đến kinh doanh xe khách do phải thuê tài xế lái xe, Hội đồng xét xử xét thấy: Việc xảy ra xô xát giữa ông H và gia đình bà T vào ngày 30/8/2016 hậu quả không lớn và đã được cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Sau đó, ông H cũng không có hành vi nào khác cản trở việc kinh doanh xe khách của gia đình bà T. Bà T cung cấp xác nhận của anh Nguyễn Anh T, anh Đặng Văn Thạnh có chạy xe thuê cho ông Trần Công B nhưng cho rằng vì do ông H hù dọa, đòi lấy mạng sống của ông Trần Công B nên mới thuê tài xế lái xe thay cho ông B, tuy nhiên lại không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho lời trình bày này của mình nên không có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần giữ nguyên bản án sơ thẩm nên yêu cầu kháng cáo của bà T là không có căn cứ chấp nhận.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tại phiên tòa là có căn cứ được chấp nhận.

Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Ngô Thị T phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Ngô Thị T.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 16/2018/DS-ST ngày 10 tháng 8 năm 2018 của Toà án nhân dân huyện B;

Áp dụng các Điều 604; 605; 606; 608; 609 của Bộ luật dân sự 2005,

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ngô Thị T,

Buộc ông Lê H phải có nghĩa vụ bồi thường cho bà T số tiền 1.300.000 đồng thuê xe ngày 30/8/2016; Số tiền 600.000 đồng thuê xe ngày 07/9/2016; Số tiền 120.000 đồng mua thuốc ngày 01/9/2016; Số tiền 50.000 đồng siêu âm ngày 07/9/2016; Số tiền 15.000 đồng công khám ngày 07/9/2016; Số tiền 115.000 đồng chụp X Quang ngày 01/9/2016; Số tiền 600.000 đồng mất thu nhập của hai ngày (01/9/2016; 07/9/2016) đi khám bệnh. Tổng cộng số tiền ông H phải bồi thường cho bà T là 2.800.000 đồng (Hai triệu tám trăm nghìn đồng).

Bác yêu cầu khởi kiện của bà T về việc yêu cầu ông H bồi thường thiệt hại số tiền 94.000.000 đồng do ảnh hưởng đến kinh doanh xe khách.

Bác yêu cầu khởi kiện của bà T về việc yêu cầu ông H phải bồi thường thiệt hại số tiền 2.900.000 đồng sửa chữa xe mô tô.

Bác yêu cầu khởi kiện của bà T về việc yêu cầu ông H bồi thường số tiền 12.500.000đồng tổn thất về tinh thần.

Bác yêu cầu khởi kiện của bà T về việc yêu cầu ông H bồi thường cho bà T số tiền chi phí khám chữa bệnh của bốn ngày 02/11/2016; 29/11/2016; 20/6/2017; 12/7/2017 với tổng số tiền là 11.840.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn thi hành án theo mức lãi suất nợ cơ bản do Ngân hàng nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Ngô Thị T phải chịu 4.845.000 đồng được khấu trừ vào số tiền 2.422.300 đồng tạm ứng án phí bà T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện B theo biên lai thu tiền số 0021733 ngày 03/01/2918. Bà T còn phải nộp tiếp 2.422.700 đồng (Làm tròn 2.422.000 đồng) (Hai triệu bốn trăm hai mươi hai nghìn đồng).

Ông Lê H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

3. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Ngô Thị T phải chịu 300.000đồng được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0022284 ngày 14/8/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Bình Phước.

Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ