vanban.org

Bản án 19/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Kim Bảng, tỉnh Hà Nam Tuyên án 10/04/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Truy tố ra trước Tũa ỏn nhõn dõn huyện Kim Bảng để xét xử bị can Lê Đỡnh Dũng cú lý lịch như đó nờu trờn về tội "Tàng trữ trỏi phộp vật liệu nổ". quy định tại điều 232 khoản 1-Bộ luật hỡnh sự.

Kốm theo cỏo trạng cú: Hồ sơ vụ án được đánh số từ 01 đến 107. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Truy tố ra trước Tũa ỏn nhõn dõn huyện Kim Bảng để xét xử bị can Lê Đỡnh Dũng cú lý lịch như đó nờu trờn về tội "Tàng trữ trỏi phộp vật liệu nổ". quy định tại điều 232 khoản 1-Bộ luật hỡnh sự.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật tố tụng hỡnh sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIM BẢNG
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2018/HS-ST
Ngày 10 - 4 - 2018.

NHÂN DANH NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Nguyệt.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Nga.

2. Bà Phạm Thị Hồng Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quang Tất - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Phương Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2018/TLST- HS ngày 15 tháng 3 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2018/QĐXXST-HS ngày 26/3/2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H, sinh năm 1994; nơi ĐKHKTT và cư trú: Xóm 9, xó Đ, huyện K, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M và bà Trịnh Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền sự, tiền án: Không. Bị tạm giữ ngày 21/01/2018; áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” ngày 29/01/2018. Cú mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Đinh Thị H, sinh năm 1986; Trú tại: Xóm 3, xã Đ, huyện K, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.

- Người làm chứng: Ông Trần văn D, sinh năm 1954; trú tại: Xóm 9, xã P, huyện K, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.

- Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1965; trú tại: Xóm 10, xã P, huyện K, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo cỏc tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 21 giờ 30 ngày 21/01/2018, Công an huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam tuần tra trên QL21A thuộc địa phận xóm 16, xã P, huyện K, tỉnh Hà Nam phát hiện thấy Nguyễn Văn H, sinh năm 1994 ở xóm 10, xã Đ, huyện K, tỉnh Hà Nam đang điều khiển xe ôtô BKS 98C-131.61 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu Nguyễn Văn H dừng xe để kiểm tra thì phát hiện, thu giữ tại ghế phụ cabin xe 01 bao tải màu trắng bên trong có 100 vật không rõ hình, các vật đều gắn dây màu xanh và 01 thùng catton bên trong có 03 hộp nhỏ, bên ngoài có chữ nước ngoài. Nguyễn Văn H khai nhận 100 vật không rõ hình là pháo trứng, 01 hộp nhỏ là 03 dàn pháo hồng, mục đích cất giấu để sử dụng. Công an huyện Kim Bảng lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng ký hiệu QT01. Ngoài ra thu giữ của Nguyễn Văn H 01 điện thoại di động Iphone màu đen, 01 xe ôtô BKS 98C-131.61, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe, 01 giấy kiểm định, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc, số tiền 2.800.000đồng. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn H không phát hiện, thu giữ gỡ.

Tại bản kết luận giám định số 93/KTHS ngày 22/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: 100 vật hình bóng điện trên cùng loại ký hiệu A1 là pháo, có đặc tính của pháo nổ (Chứa thuốc pháo và khi đốt có gây tiếng nổ), tổng khối lượng là 3,646kg; 03 vật hình khối hộp vỏ màu đỏ vàng cùng loại gồm 36 quả hình trụ kết lại ký hiệu A2 là pháo, có đặc tính của pháo nổ (Chứa thuốc pháo và khi đốt có gây tiếng nổ), tổng khối lượng là 4,385kg. Tổng khối lượng các mẫu gửi giám định ký hiệu A1, A2 là 8,031kg.

Về nguồn gốc số pháo nổ: Nguyễn Văn H khai nhận gọi qua điện thoại mua của một người đàn ông tên là T ở huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình. Do H không biết họ, tên đệm, tuổi, địa chỉ cùng đặc điểm nhận dạng của người bán này nên Cơ quan điều tra không làm rừ được.

Tại bản cáo trạng số 18/CT-VKSKB ngày 12/3/2018, Viện Kiểm sát nhận dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam đó truy tố Nguyễn Văn H về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; Điều 50; điểm s điểm i khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Văn H từ 12 tháng đến 15 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng, kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo H cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Ngoài ra VKS còn đề nghị xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo. Bị cáo nhất trí cáo trạng, luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đó được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng trong quá trình điều tra, truy tố đó thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đó thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn H tại phiên tòa phù hợp với lời khai nhận tội tại cơ quan điều tra, biên bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng, người làm chứng, bản kết luận giám định về thời gian, địa điểm cùng toàn bộ các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được đưa ra xem xét tại phiên tòa. Tòa án có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 21 giờ ngày 21/01/2018, tại xóm 16, xã P, huyện K, tỉnh Hà Nam. Công an huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam bắt quả tang Nguyễn Văn H tàng trữ trái phép trên cabin xe ô tô 8,031kg pháo nổ, mục đích để sử dụng vào dịp tết nguyên đán. Hành vi đó của Nguyễn Văn H đó phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất kinh doanh một số loại hàng cấm, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Xét về mặt chủ quan của tội phạm, bị cáo thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp, nhận thức rõ hành vi cất giấu tại ghế phụ cabin xe ô tô 100 pháo trứng và 03 dàn pháo hồng không có giấy phép hợp lệ là trái pháp luật vỡ pháo nổ là một trong các loại hàng hóa mà Nhà nước không cho phép lưu thông trên thị trường mà vẫn thực hiện.

Khi quyết định hình phạt, Tòa án cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hinh sự. Thấy, Nguyễn Văn H chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội. Đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hinh sự được quy định tại điểm s điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tình tiết tăng nặng bị cáo không phải chịu. Do vậy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mà cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp với quy định của pháp luật và đề nghị của Viện kiểm sát.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 191 Bộ luật Hình sự: “Người phạm tội còn có thể phạt bị phạt tiền từ 10.000.000đồng đến 50.000.000đồng…” . Tuy nhiên thấy lời khai của bị cáo tại phiêm tòa và các tài liệu chứng cứ thì bị cáo là lao động tự do, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về nguồn gốc pháo nổ: Nguyễn Văn H khai nhận mua của người đàn ông tên là T ở huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình qua điện thoại. Do Hồng không biết họ, tên đệm, tuổi, địa chỉ cùng đặc điểm nhận dạng của người đàn ông đã bám cho bị cáo nên cơ quan điều tra không làm rõ được để xử lý theo quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Gồm 98 quả pháo nổ hình bóng điện tròn cùng loại, mỗi quả có KT 6,5cm, đường kính đầu to 4cm, đường kính đầu nhỏ 2,5cm và 03 hộp pháo cùng loại vỏ màu vàng đỏ, mỗi hộp có KT (14x14x15)cm là vật cấm lưu hành nên tịch thu và tiêu hủy. Đối với số tiền 2.800.000đồng là tiền do bị cáo lao động mà có, xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án nên trả lại cho bị cáo. 01 điện thoại Iphone màu đen, máy đó qua sử dụng bị cáo sử dụng gọi để mua pháo nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước theo quy định Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Ngoài ra cơ quan điều tra đó trả lại cho chị Đinh Thị H 01 xe ô tô BKS 98C-131.61 cùng giấy tờ xe, chị H đã nhận tài sản và không có ý kiến gì nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 332333, 234 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; Điều 50; điểm s điểm i khoản 1 Điều 51; điều 56 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Văn H 15 (Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện K, tỉnh Hà Nam giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thig thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án Hình sự.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu và tiêu hủy 98 quả pháo hình bóng điện cùng loại, mỗi quả có KT 6,5cm, đường kính đầu to 4cm, đường kính đầu nhỏ 2,5cm và 03 hộp pháo cùng loại vỏ màu vàng đỏ, mỗi hộp có KT (14x14x15)cm. Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Iphone màu đen, máy đó qua sử dụng. Trả lại cho bị cỏo Nguyễn Văn H số tiền 2.800.000đồng (Tình trạng, số lượng như biên bản bàn giao giữa cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Bảng ngày 13/3/2018; ủy nhiệm chi).

3. Án phí: Áp dụng Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toàn án. Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15, tính từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nơi nhận:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- TAND tỉnh Hà Nam;

- VKSND tỉnh Hà Nam;

- VKSND huyện Kim Bảng;

- Cụng an huyện Kim Bảng;

- Chi cục THADS huyện Kim Bảng;

- Bị cáo;

- Người có QLNVLQ;

- Lưu hồ sơ.

Bùi Thị Nguyệt

Thẩm phỏn – Chủ tọa phiờn tũa

Cỏc Hội thẩm nhõn dõn

Bựi Thị Nguyệt

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nơi nhận:

Thẩm phỏn – Chủ tọa phiờn tũa

- TAND tỉnh Hà Nam;

- VKSND tỉnh Hà Nam;

- VKSND huyện Kim Bảng;

- Cụng an huyện Kim Bảng;

- Chi cục THADS huyện Kim Bảng;

- Bị cỏo;

- Người có QLNVLQ; Lưu hồ sơ.

Bựi Thị Nguyệt Nơi nhận:

TM.HỘI ĐỒNG XỬ SƠ THẨM

- ;

- VKSND huyện Kim TAND tỉnh Hà Nam;

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

- VKSND tỉnh Hà NamBảng;

- Công an huyện Kim Bảng;

- Chi cục T.H.A dân sự huyện Kim Bảng;

- Bị cáo;

- Người có QLNVLQ;

- Lưu hồ sơ.

Bùi Thị Nguyệt

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Các Hội thẩm nhân dân

Bùi Thị Nguyệt

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thỡ người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Các Hội thẩm nhân dân

Bùi Thị Nguyệt VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

CỘNG HềA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN KIM BẢNG

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.

------------------

-------------------------------------

Số: 73/KSĐT- TA.

Kim Bảng, ngày 16 tháng 11 năm 2015.

CÁO TRẠNG

VIỆN TRƢỞNG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN KIM BẢNG

- Căn cứ các điều 36, 166, 167- Bộ luật tố tụng hỡnh sự.

- Căn cứ Quyết định khởi tố vụ án hỡnh sự số 71 ngày 26/10/2015 của Cơ quan CSĐT Công an huyện Kim Bảng về tội "Tàng trữ trỏi phộp vật liệu nổ" quy định tại điều 232 khoản 1-Bộ luật hỡnh sự.

- Căn cứ Quyết định khởi tố bị can số 140 ngày 27/10/2015 của Cơ quan CSĐT Công an huyện Kim Bảng đối với Lê Đỡnh Dũng về tội "Tàng trữ trỏi phộp vật liệu nổ" quy định tại điều 232 khoản 1- Bộ luật hỡnh sự.

Trên cơ sở kết quả điều tra đó xỏc định được như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 23/10/2015, Công an huyện Kim Bảng tuần tra trên địa bàn xó Tượng Lĩnh, Kim Bảng, Hà Nam, phát hiện thấy Lê Đỡnh Dũng sinh năm 1975 ở thôn 7, xó Thọ Diờn, Thọ Xuõn, Thanh Húa đang đạp xe đạp có biểu hiện nghi vấn. Tiến hành kiểm tra phát hiện, thu giữ tại gácbaga xe đạp của Dũng 01 túi xách bằng giấy màu xanh bên trong có chứa các hạt nhỏ màu trắng đục. Dũng khai nhận là thuốc nổ, Dũng tàng trữ mục đích để khai thác đá. Công an huyện Kim Bảng phối hợp với Công an xó Tượng Lĩnh lập biên bản bắt giữ Dũng, niêm phong vật chứng ký hiệu QT 01; Thu giữ tiếp của Dũng 01 tỳi nilon màu trắng bờn trong có 2 đoạn ống kim loại màu trắng thân trũn đều có độ dài 4,5cm, đường kính 0,5cm hai đầu của ống kim loại được bịt kín và đều được đính bằng 2 sợi dây điện nhỏ màu vàng, Dũng khai nhận là kíp nổ. Công an huyện Kim Bảng niêm phong vật chứng, ký hiệu QT 02; ngoài ra cũn thu giữ một số vật chứng khỏc liờn quan vụ ỏn. Khỏm xột chỗ ở của Lờ Đỡnh Dũng khụng phỏt hiện, thu giữ gỡ (Bỳt lục số 05; 31-> 34; 62-> 91).

Tại bản kết luận giám định số 9947/C54-P2 ngày 26/10/2015 của Bộ công an kết luận: Các hạt màu trắng có ký hiệu QT01 đều là thuốc nổ công nghiệp ANFO, khối lượng 03kg; 02 vật hỡnh trụ vỏ bằng kim loại màu trắng cú ký hiệu QT 02 đều là kíp nổ điện vỏ nhôm ( Bút lục số 16).

Về nguồn gốc số thuốc nổ Lê Đỡnh Dũng khai nhận: Trưa ngày 23/10/2015 tại chợ Tân Sơn, Kim Bảng, có người đàn ông Dũng mới quen tên là Tuấn đưa thuốc nổ nhờ Dũng đem lên bói đá Thường Tín, TP. Hà Nội để sử dụng. Do Dũng không biết họ, tên đệm, tuổi, địa chỉ cùng đặc điểm nhận dạng của người đàn ông này và ngoài lời khai của Dũng không có tài liệu nào khác nên CQĐT không có căn cứ xác minh, làm rừ (bỳt lục 74).

Đối với chiếc xe đạp, Lê Đỡnh Dũng khai nhận của người đàn ông tên Tuấn đưa cho Dũng sử dụng vào việc phạm tội; Chiếc điện thoại di động Land-Rover là tài sản của Dũng không liên quan đến vụ án (bút lục 76).

Trong quỏ trỡnh điều tra, bị can Lê Đỡnh Dũng đó khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mỡnh. Lời khai của bị can phự hợp với biờn bản bắt giữ người phạm tội quả tang, vật chứng, bản kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và cỏc tài liệu khỏc.

Từ cỏc tỡnh tiết, chứng cứ nờu trờn:

KẾT LUẬN

Khoảng 13 giờ ngày 23/10/2015, tại thụn Thọ Cầu, xó Tượng Lĩnh, Kim Bảng, Công an huyện Kim Bảng phát hiện, bắt quả tang Lê Đỡnh Dũng tàng trữ trỏi phộp 03 kg thuốc nổ công nghiệp ANFO và 02 kíp nổ điện vỏ nhôm tại gácbaga xe đạp của Dũng mục đích để sử dụng khai thác đá.

Như vậy có đủ căn cứ xác định bị can có lý lịch dưới đây đó phạm tội

như sau:

Lí LỊCH BỊ CAN

Họ và tên: Lê Đỡnh Dũng sinh năm 1975; Tên gọi khỏc: Khụng. STQ: Thụn 7, xó Thọ Diờn, Thọ Xuõn, Thanh Húa. Nghề nghiệp: Lao động tự do;

Trỡnh độ văn hoá: 7/ 12.

Quốc tịch: Việt Nam; Dõn tộc: Kinh; Tụn giỏo: Khụng Hoạt động chính trị, xó hội: Khụng. Cha: Lê Đỡnh Chỳc sinh năm 1916- đó chết. Mẹ: La Thị Quế sinh năm 1929- đó chết. Vợ: Đỗ Thị Vân sinh năm 1977- Hiện nay lao động tự do ở tại tỉnh ĐắcLắk. Con: Có 2 con, con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2006. Gia đỡnh cú 7 anh, chị em, bị can là thứ 7. Tiền ỏn, tiền sự: Khụng

Bị can bị bắt tạm giữ ngày 23/10/2015, khởi tố bị can chuyển tạm giam ngày 29/10/2015, giam tại Nhà tạm giữ Cụng an huyện Kim Bảng.

Hành vi nêu trên của Lê Đỡnh Dũng đó phạm tội "Tàng trữ trỏi phộp vật liệu nổ" Tội phạm và hỡnh phạt được quy định tại điều 232 khoản 1- BLHS.

Điều 232 khoản 1- Bộ luật hỡnh sự quy định:

1. “Người nào... tàng trữ... trái phép...vật liệu nổ, thỡ bị phạt tự từ một năm đến năn năm”

Vỡ cỏc lẽ trờn:

QUYẾT ĐỊNH

Truy tố ra trước Tũa ỏn nhõn dõn huyện Kim Bảng để xét xử bị can Lê Đỡnh Dũng cú lý lịch như đó nờu trờn về tội "Tàng trữ trỏi phộp vật liệu nổ". quy định tại điều 232 khoản 1-Bộ luật hỡnh sự.

Kốm theo cỏo trạng cú:

- Hồ sơ vụ án được đánh số từ 01 đến 107.

- Bản thống kờ vật chứng. Nơi nhận:

KT/ VIỆN TRƢỞNG -VKSND tỉnh Hà Nam ( để b/ c)

PHÓ VIỆN TRƢỞNG

- CQĐT ( t/báo)

- Bị can (để t/đạt) -HSVA -HSKS -Lưu Nơi nhận:

TM.HộI ĐồNG XéT Xử SƠ THẩM -TAND tỉnh Hà Nam; -VKSND huyện Kim bảng;

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà -Công an huyện Kim bảng; -THADS huyện Kim bảng; -Bị cáo; -Lưu hs.

Bùi Thị Nguyệt

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Đinh Tuấn Anh

Nguyễn Văn Thơ

Bùi Thị Nguyệt

Cỡ chữ