vanban.org

Bản án 19/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 20/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hồ Văn T, Hồ Văn T2 phạm tội “ Cố ý làm hư hỏng tài sản”

Bị cáo Hồ Văn T 15 tháng tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị cáo Hồ Văn T2 18 tháng tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "cố ý làm hư hỏng tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hồ Văn T, Hồ Văn T2 phạm tội “ Cố ý làm hư hỏng tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRÀ BỒNG
TỈNH QUẢNG NGÃI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2018/HS-ST
Ngày 19 - 11 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ BỒNG TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hòa

- Các Hội thẩm nhân dân:

+ Bà Nguyễn Thị Nương

+ Bà Ngô Thị Bích Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Minh Thuận là Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Ánh - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2018 tại Tòa án nhân dân huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2018/TLST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2018/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2018 đối với các bị cáo:

Hồ Văn T, sinh ngày 07/10/1995, tại tỉnh Quảng Ngãi. Nơi cư trú: Thôn T, xã TrT, huyện TB , tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Nông; trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Co; con ông: Hồ Văn T1 và bà Hồ Thị Th; tiền án: không, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại (có mặt)

Hồ Văn T2, sinh năm 1991; tại Quảng Ngãi; Nơi cư trú: Thôn T, xã TrT, huyện TB ,tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Nông; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Co; con ông: Hồ Việt X và bà Hồ Thị H; vợ: Không; có 01 con ngoài giá thú, sinh năm 2012; tiền án: không, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại (có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo:

Bà Phạm Thị Hà Châu – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Quảng Ngãi, là người bào chữa cho bị cáo Hồ Văn Tư.(có mặt)

Bà Võ Thị Hiếu – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Quảng Ngãi, là người bào chữa cho bị cáo Hồ Văn Tình.(có mặt)

- Bị hại: Ông Lê Quang H, sinh năm 1989. Địa chỉ: Thôn TA, xã TĐ, huyện ST, tỉnh Quảng Ngãi.(có mặt)

- Người tham gia tố tụng khác:

+ Ngườilàm chứng:

1. Ông Phan Thiên Châu, sinh năm: 1965.

Địa chỉ: Tổ 17, phường LS, tỉnh Lâm Đồng.

2. Bà Hồ Thị N, sinh năm: 1965.

Địa chỉ: Tổ 6, thôn T, xã TB, huyện TB, tỉnh Quảng Ngãi.

3. Ông Nguyễn Q, sinh năm 1968.

Địa chỉ: Xã ĐC, huyện MĐ, tỉnh Quảng Ngãi.

4. Bà Hồ Thị H, sinh năm 1997.

Địa chỉ: Tổ 3, thôn T, xã TB, huyện TB, tỉnh Quảng Ngãi.

5. Ông Hồ Quốc Đ, sinh năm 1996.

Địa chỉ: Tổ 3, thôn Tây T, xã TrT, huyện TB , tỉnh Quảng Ngãi.

+ Người phiên dịch: Ông Hồ Văn Nghĩa – Cán bộ hưu trí xã Trà Thủy, huyện Trà Bồng là người phiên dịch cho các bị cáo Hồ Văn T, Hồ Văn T2.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 25/5/2018, Hồ Văn T2, Hồ Văn T, Hồ Quốc Đ, Hồ Văn L, đều trú tại: Xã TrT, huyện TB, tỉnh Quảng Ngãi, sau khi uống hết hai thùng bia tại thôn T , xã TrT, huyện TB thì rủ nhau đến trại nuôi ong của anh Lê Quang H tại tổ 5, thôn T, xã TB, huyện TB và cùng anh H nhậu tại đây. H, T, T và L cùng nhậu với nhau, riêng Đ không tham gia nằm trên võng gần trại nuôi ong để ngủ. Trong lúc nhậu thì xảy ra mâu thuẩn giữa T, T2 với H. Khi ngừng nhậu thì L chở T, T2 đi về, còn Đ tự điều khiển xe mô tô về trước. Trên đường về T, T2 có nói chuyện với nhau về việc H có lời lẽ xúc phạm, coi thường T và T2 nên cả hai đều bực tức trong người. Đến tổ 6, thôn T, xã TB, huyện TB thì T2 nhìn thấy trại nuôi ong của anh H tại đây, T2 bảo Long dừng xe và tiến vào trại nuôi ong dùng chân đạp khoảng 03 đến 04 cái vào các thùng nuôi ong trong trại, thấy vậy T cũng tiến vào dùng chân đạp khoảng 02 cái thùng nuôi ong. Do các thùng nuôi ong được xếp theo hàng và có khoảng cách gần nhau (khoảng cách giữa các thùng từ 10-30cm/hàng) nên khi các thùng nuôi ong phía ngoài của một hàng ngã sẽ đè lên thùng tiếp theo dẫn đến các thùng nuôi ong trong cùng một hàng ngã theo. Hành vi của T, T2 dẫn đến hậu quả làm ngã 59 thùng nuôi ong.

Tại kết luận định giá tài sản số 11/KL-HDĐGTS ngày 24/7/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Trà Bồng kết luận tổng giá trị tài sản bị thiệt hại như sau:

- 11 thùng nuôi ong mật bị thiệt hại hoàn toàn 100 %, có giá trị: 16.467.000 đồng.

- 48 thùng nuôi ong mật bị thiệt hại từ 30% - 80 %, có giá trị: 26.640.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 43.107.000 đồng.

Bản cáo trạng số 10/CT-VKSTB ngày 12 tháng 10 năm 2018 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi đã truy tố các bị cáo Hồ Văn T, Hồ Văn T2 về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 của BLHS.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Hồ Văn T, Hồ Văn T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Bị hại: Không yêu cầu gì về vấn đề trách nhiệm dân sự, mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người bào chữa cho các bị cáo: Thống nhất tội danh mà Viện kiểm sát truy tố đối với các bị cáo. Bị cáo Hồ Văn T, Hồ Văn T2 không có tình tiết tăng nặng, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra, các bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, hộ nghèo; các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65; Điều 178 BLHS; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: Xử phạt bị cáo Hồ Văn T mức án 12 -15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; xử phạt bị cáo Hồ Văn T2 mức án 12 -18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và miễn tiền án phí cho các bị cáo.

Kiểm sát viên luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 178 của BLHS; Điều 17, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS tuyên bố bị cáo Hồ Văn T, Hồ Văn T2 phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” và đề nghị xử phạt bị cáo Hồ Văn T mức án từ 18 đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; bị cáo Hồ Văn T2 mức án từ 12 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BL TTHS: Trả lại chủ sở hữu anh Lê Quang H: 04 vỏ thùng nuôi ong bằng nhựa hình hộp chữ nhật có kích thước (50x47x28)cm, vỏ thùng bị hư hỏng không còn nguyên vẹn, hai bên thùng có khoảng trống kích thước (34x9) cm được gắn lớp lưới bằng kim loại; 05 cầu nuôi ong đã bị bể, không còn nguyên vẹn. Vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Các bị cáo bà bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong nên không đặt ra giải quyết.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trà Bồng, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Bồng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo là phù hợp bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời trình bày của bị hại, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập, nên đủ cơ sở để kết luận các bị cáo Hồ Văn T, Hồ Văn T2 phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 178 BLHS.

Chỉ vì mâu thuẩn cá nhân trong lúc cùng nhậu mà bị cáo Hồ Văn T2 đã có hành vi dùng chân đạp khoảng 03 đến 04 cái vào các thùng nuôi ong, bị cáo Hồ Văn T thấy vậy cũng tiến vào dùng chân đạp khoảng 02 cái vào các thùng nuôi ong của anh Lê Quang H làm các thùng nuôi ong được xếp theo hàng và có khoảng cách gần nhau cùng ngã theo. Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi của mình là tự phát, không có sự bàn bạc trước, bị cáo T có hành vi dùng chân đạp trước kéo theo hành vi tự phát của bị cáo T. Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 43.107.000 đồng. Mục đích các bị cáo chỉ là cho đỡ bực tức nhưng buộc các bị cáo phải nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ dẫn đến mất trật tự, an toàn xã hội.

Tuy nhiên, các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, các bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại và các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Ngoài ra, các bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế, có nhân thân tốt; có nơi cư trú cụ thể rõ ràng; tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên cần xem đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS; Do đó, Hội đồng xét xử nhận định không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội và cho bị cáo hưởng án treo, giao bị cáo cho về cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục vẫn đạt mục đích giáo dục, cải tạo người phạm tội và phòng ngừa chung cho xã hội.

Đề nghị của Kiểm sát viên, người bào chữa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử được chấp nhận. Riêng đối với đề nghị của Kiểm sát viên về khung hình phạt với bị cáo Hồ Văn T là chưa phù hợp nên không chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa cũng như tại hồ sơ vụ án các bên đã thỏa thuận xong về phần dân sự, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Xử lý vật chứng: Trả lại cho chủ sở hữu anh Lê Quang H gồm: 04 vỏ thùng nuôi ong bằng nhựa hình hộp chữ nhật có kích thước (50x47x28)cm, vỏ thùng bị hư hỏng không còn nguyên vẹn, hai bên thùng có khoảng trống kích thước (34x9) cm được gắn lớp lưới bằng kim loại; 05 cầu nuôi ongđã bị bể, không còn nguyên vẹn

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Hồ Văn T, Hồ Văn T2 là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, hộ nghèo nên được miễn tiền án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 178 BLHS; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 47, Điều 65 BLHS; Điều 106 BLTTHS; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Hồ Văn T, Hồ Văn T2 phạm tội “ Cố ý làm hư hỏng tài sản”

2. Xử phạt:

Bị cáo Hồ Văn T 15 tháng tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị cáo Hồ Văn T2 18 tháng tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm

Giao các bị cáo Hồ Văn T, Hồ Văn T2 cho Ủy ban nhân dân xã TrT, huyện TB, tỉnh Quảng Ngãi nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo.

3. Về xử lý vật chứng:

- Trả lại cho chủ sở hữu anh Lê Quang H: 04 vỏ thùng nuôi ong bằng nhựa hình hộp chữ nhật có kích thước (50x47x28)cm, vỏ thùng bị hư hỏng không còn nguyên vẹn, hai bên thùng có khoảng trống kích thước (34x9) cm được gắn lớp lưới bằng kim loại; 05 cầu nuôi ong đã bị bể, không còn nguyên vẹn. Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trà Bồng với Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi ngày 16/10/2018.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Hồ Văn T, bị cáo Hồ Văn T2 được miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ