vanban.org

Bản án 19/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 29/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vi Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Vi Văn T 10 (mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ là 07 ngày (thời hạn tạm giữ tính từ ngày 05/3/2018 đến ngày 11/3/2018). Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi Văn Thi - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vi Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỘC BÌNH
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:19/2018/HS-ST
Ngày 29-6-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bẩy

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Cao Sơn

Bà Đặng Thị Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hạnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Chu Văn Tới - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 12/2018/TLST - HS ngày 09 tháng 5 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2018/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2018/QĐ-HS ngày 15 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:

Vi Văn T, sinh ngày 14 tháng 4 năm 1996 tại thị trấn N, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Nơi cư trú: Số X, khu S, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp làm ruộng; trình độ văn hoá 12/12; dân tộc tày; giới tính nam; tôn giáo không; quốc tịch Việt Nam; con ông Vi Văn T và bà Hoàng Thị L; vợ con chưa có; tiền án, tiền sự không; bị bắt tạm giữ từ ngày 05 tháng 3 năm 2018 đến ngày 11 tháng 3 năm 2018. Hiện đang tại ngoại, có mặt.

- Bị hại: Anh Hoàng Văn D, sinh năm 1988; nơi cư trú: Thôn K, xã N, huyện L, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Sầm Văn H; nơi cư trú: Thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.

2. Anh Hà Văn M; nơi cư trú: Khu X, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 26/02/2018, Vi Văn T cùng với Phạm Tiến Đ điều khiển xe mô tô của Phạm Tiến Đ đến quán internet M thuộc khu B, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lạng Sơn để chơi game. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày thì Hoàng Văn D đi xe mô tô biển kiểm soát 12L1 - 08525 nhãn hiệu HONDA WAVE (giấy tờ mang tên chủ sở hữu là Sầm Văn H) đến quán chơi game, Hoàng Văn D để xe ngoài cửa quán. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, quan sát thấy Hoàng Văn D ngồi chăm chú chơi game, xe mô tô của Hoàng Văn D để ngoài sân, ổ khóa xe bị nhờn và dễ mở nên Vi Văn T đã cầm chìa khóa xe mô tô của Phạm Tiến Đ và đi ra sân, mở khóa xe máy của Hoàng Văn D điều khiển đến quán hát thuộc khu E, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lạng Sơn gặp Hà Văn M và mượn số tiền 2.000.000 đồng và đặt xe mô tô cho Hà Văn M để đảm bảo. Sau đó, Vi Văn T quay lại quán nét tiếp tục chơi game đến sáng hôm sau hết số tiền trên. Đến 18 giờ 30 phút cùng ngày, Vi Văn T đã mượn xe mô tô biển kiểm soát 12K6 - 7124 của Đàm Văn S đến quán hát tại khu I, thị trấn N gặp Hà Văn M để đổi lấy xe mô tô của Hoàng Văn D về. Sau khi đổi được Vi Văn T điều khiển xe mô tô của Hoàng Văn D đến khu đồi thuộc khu S, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lạng Sơn để cất giấu. Khoảng 9 giờ ngày 28/02/2018 Vi Văn T gọi điện cho Hoàng Văn D và nói đã tìm được xe nhưng phải bỏ 4.000.000 đồng để chuộc lại xe. Vi Văn T đưa xe mô tô cho Hoàng Văn D, nhưng Hoàng Văn D không có tiền và bảo Hoàng Văn D đợi ở phòng trọ để Hoàng Văn D về nhà lấy tiền trả. Sau khi lấy được xe Hoàng Văn D giao xe mô tô lại cho cơ quan điều tra để giải quyết vụ việc.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 04/KL - HĐĐGTS ngày 02/3/2018 của Hội đồng định giá tài sản Tố tụng hình sự huyện L, tỉnh Lạng Sơn kết luận: Xe mô tô biển kiểm soát: 12L1 - 085.25 nhãn hiệu HONDA WAVE, màu sơn xanh - đen - bạc, số máy HC12B5509769; số khung 120 DY510085 có trị giá 13.530.000 đồng (mười ba triệu năm trăm ba mươi nghìn đồng chẵn).

Cáo trạng số 13/CT-VKS ngày 04 tháng 5 năm 2018, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Vi Văn T về tội Trộm cắp tài sản, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.

Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có đơn xin xử vắng mặt và xin giữ nguyên lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra. Hội đồng xét xử đã công bố đơn xin vắng mặt và lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Bình. Anh Sầm Văn H và Hoàng Văn D đều thừa nhận chiếc xe máy có biển kiểm soát 12L1 - 08525 của anh Sầm Văn H đã cho anh Hoàng Văn D, và nay đã do anh Hoàng Văn D toàn quyền quản lý, sử dụng, định đoạt.

Bị cáo Vi Văn T thừa nhận lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an huyện Lộc Bình và công bố tại phiên tòa là đúng.

Trong phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị tuyên bố bị cáo Vi Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản. Phạt bị cáo Vi Văn T từ 06 tháng đến 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thụ hình, được trừ thời gian đã bị tạm giữ; không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền.

Về xử lý vật chứng, đề nghị căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, xác nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Bình đã trả cho chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12L1 - 085.25 nhãn hiệu HONDA WAVE và 02 chiếc chìa khóa điện; bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định.

Bị cáo Vi Văn T không có ý kiến gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát và xin được cải tạo tại địa phương.

Lời nói sau cùng, bị cáo nhận thức rõ về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt mức thấp nhất và cho bị cáo tại ngoại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đều thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Hồ sơ thể hiện, quá trình điều tra bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi cấu thành tội phạm, Hội đồng xét xử thấy rằng: Lời khai của bị cáo trước phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với vật chứng thu giữ được, Kết luận định giá của Hội đồng định giá và những chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 26/02/2018 tại khu B, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lạng Sơn, Vi Văn T đã có hành vi trộm cắp xe mô tô biển kiểm soát 12L1-085.25 nhãn hiệu HONDA WAVE, màu sơn xanh - đen - bạc của anh Hoàng Văn D có trị giá 13.530.000 đồng, tội danh và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, như Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người trưởng thành, có đủ năng lực nhận thức về hậu quả mà hành vi của mình gây ra nhưng vẫn thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Ngoài tình tiết định khung, bị cáo không có tình tiết tăng nặng khác. Về tình tiết giảm nhẹ, bị cáo thành khẩn khai báo, ãn nãn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này, bị cáo không bị Tòa án xét xử lần nào. Do vậy, cần xem xét, phạt bị cáo với mức hình phạt phù hợp với hành vi mà bị cáo đã thực hiện, nhưng vẫn phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, để bị cáo cải tạo thành người công dân có ích cho xã hội, đồng thời vẫn đảm bảo tính giáo dục, răn đe phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản riêng, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, Kiểm sát viên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phù hợp nên được chấp nhận.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn đã đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo. Đề nghị này là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với anh Hà Văn M không biết chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12L1 - 085.25 mà Vi Văn T đặt nhằm vay 2.000.000 đồng cũng như Phạm Tiến Đ không biết việc Vi Văn T sử dụng chìa khóa xe mô tô của mình để thực hiện hành vi trộm cắp, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Bình không đặt vấn đề xử lý là có căn cứ.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Bình đã trả cho anh Sầm Văn H, là chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12L1 - 085.25 nhãn hiệu HONDA WAVE và 02 chiếc chìa khóa theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về trách nhiệm chịu án phí: Bị cáo bị kết án, phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo Điều 331 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 136 và Điều 331của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

1. Tuyên bố bị cáo Vi Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Vi Văn T 10 (mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ là 07 ngày (thời hạn tạm giữ tính từ ngày 05/3/2018 đến ngày 11/3/2018).

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Vi Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ