- Tranh chấp gì? án hình sự — "R' Ô V phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HU ỆN NG A T NH GIA AI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 19/2018/HS-ST Ngày 06 - 6 - 2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HU ỆN
NG A T NH GIA AI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ksor Pep.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Liễu.
2. Bà Phùng Thị Tố Trinh.
- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Giang – Thư ký Toà án, Toà án nhân dân huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Nay San - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 13/2018/TLST –HS ngày 24 tháng 4 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2018/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:
’ V, sinh năm 1988 tại huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai; Nơi cư trú: Buôn Chư Tê, xã Ia Rsai, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 07/12; dân tộc: Jrai; giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông R’Ô Kh và bà R’Ô H’Th (đã chết); bị cáo có vợ(đã ly hôn) và 01 con; tiền án: Ngày 17/5/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Krông Pa xử phạt 08 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, tiền sự: Ngày 05/11/2015, bị cáo bị công an xã Ia Rsai ra quyết định xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “trộm cắp tài sản”; bị cáo chưa thi hành quyết định này; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 07/02/2018, đến ngày 10/02/2018 chuyển sang tạm giam cho đến nay và hiện có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Bùi Thị Phượng là trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Gia Lai (Cómặt).
- Người bị hại:
+Anh Nay Su R, sinh năm 1995
Trú tại: Buôn Ama L, xã Chư M, huyện Ia P, tỉnh Gia L (Vắng mặt và có đơn xét xử vắng mặt).
- Những người làm chứng:
+ Anh Siu Ngân, sinh năm 1978;
Trú tại: Buôn Plei Pa Ơi H’Bui 1, xã Chư m, huyện Ia P, tỉnh Gia L (Vắng mặt và có đơn xét xử vắng mặt).
- Người phiên dịch tiếng Jrai: Anh Nay Dăm Truy, sinh năm 1986
Địa chỉ: Tổ dân phố 12, thị trấn Phú T, huyện Krông P - Gia L (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ ngày 07/02/2018, R’Ô Vă đi bộ ngang qua chòi rẫy nhà anh Trần Văn S thuộc buôn Chư T, xã Ia Rs thì phát hiện có nhiều xe mô tô để gần chòi nên V đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản để bán lấy tiền tiêu xài. Thực hiện ý định trên, R’Ô V đi đến gần một chiêc xe mô tô và dùng tay mở yên xe và phát hiện trong cốp xe có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu sam sung màu hồng- xám cùng bộ sạc pin điện thoại. R’Ô V cầm chiếc điện thoại cùng bộ sạc pin điện thoại rời khỏi cốp xe, bỏ vào túi quần và bỏ đi. Ngay sau đó, có anh Siu Ng và anh Nay Su R và một số người khác trong rẫy phát hiện được hành vi của Vang nên đã truy đuổi theo. Thấy có người đuổi theo nên R’Ô V lây chiếc điện thoại vừa trộm được bỏ vào túi áo khoác ngoài và vứt áo khoác cùng điện thoại và bộ sạc lại rồi bỏ chạy nhưng bị bắt giữ. Sau khi R’Ô V bị bắt giữ thì anh Nay Su R cùng mọi người kiểm tra trong túi áo khoác của R’Ô V vứt lại thì phát hiện chiếc điện thoại cùng bộ sạc vừa bị mất nên đã đưa R’Ô V về ban công an xã Ia Rs làm việc.
Tại cơ quan điều tra, R’Ô V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 25/KL-HĐĐG ngày 09/02/2018 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Krông Pa kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu hồng- xám; model: SM-G52G/DS (đã qua sử dụng) có giá là 2.300.000 đồng; 01 cục sạc pin nhãn hiệu Samsung màu trắng có giá là 200.000 đồng; 01 Sim Viettel số 01656256860 không có tiền trong tài khoản có giá là 70.000 đồng. Tổng thiệt hại tài sản R’Ô V gây ra là 2.570.000 đồng.
Quá trình điều tra cũng như các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, bị cáo và người bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng định giá nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 17/CT - VKS ngày 23 tháng 4 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo R’Ô V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự (sau đây gọi tắt là BLHS).
Tại phiên tòa bị cáo V đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo R’Ô V phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử : Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo R’Ô V từ 09 tháng đến 12 tháng tù, ngoài ra buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quan điểm bào chữa của trợ giúp viên pháp lý cho bị cáo R’Ô V đồng ý với bản luận tội của đại diện Viện sát nhân dân huyện Krông Pa về tội danh, điều luật áp dụng, bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn của huyện Krông Pa và đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo không quá 09 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định về hành vi phạm tội của bị cáo như sau:
Lần phạm tội của bị cáo: Vào khoảng 14 giờ ngày 07/02/2018, bị cáo R’ Ô V đi bộ ngang qua chòi rẫy của anh Trần Văn Sản thuộc buôn Chư T, xã Ia Rs thì phát hiện có nhiều xe mô tô để gần chòi nên bị cáo V đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản để bán lấy tiền tiêu xài. Để thực hiện ý định trên, bị cáo R’Ô V vi lén lút đi đến gần một chiêc xe mô tô và dùng tay mở yên xe và phát hiện trong cốp xe có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu sam sung màu hồng- xám cùng bộ sạc pin điện thoại nên bị cáo đã lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động cùng bộ sạc pin điện thoại trên rồi bỏ vào túi quần và bỏ đi. Tuy nhiên khi đi một đoạn thì bị phát hiện và bắt giữ. Hành vi của bị cáo V đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân đã được luật hình sự quy định và bảo vệ. Rõ ràng hành vi phạm tội của bị cáo là sai trái với đường lối, chính sách pháp luật hình sự của Nhà nước ta. Nay bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi và hậu quả của hành vi là có căn cứ pháp lý.
Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung của bản cáo trạng, lời khai của bị hại, người làm chứng có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo R’Ô V đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pa truy tố bị cáo về hành vi theo tội danh trên là đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.
Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo V không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở khoản 1 Điều 173 của BLHS năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt: Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ. Bị cáo là người bình thường, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng chỉ vì tham lam, lười lao động, thích hưởng lợi bất chính trên thành quả lao động của người khác nên đã trực tiếp đi tìm sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu tài sản để chiếm đoạt nhằm mục đích tư lợi bất chính gây hậu quả xấu cho xã hội, làm mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở vùng nông thôn, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của xã hội. Bị cáo có 01 tiền án là vào ngày 17/5/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Krông Pa tuyên phạt 08 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, sau khi chấp hành xong hình phạt trở về địa phương sinh sống thì bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân trở thành công dân có ích cho xã hội, mà còn tiếp tục thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản trong thời gian chưa được xóa án tích, đây là tình tiết tái phạm tăng nặng theo quy định điểm h Khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017. Ngoài ra, bị cáo có 01 tiền sự là vào ngày 05/11/2015, bị cáo bị công an xã Ia Rsai ra quyết định xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “trộm cắp tài sản”, bị cáo chưa thi hành quyết định này. Tài sản bị cáo chiếm đoạt trong vụ án này tuy có giá trị không lớn nhưng đã gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho mọi người, làm mất an ninh trật tự trên địa bàn. Mặt khác bị cáo đã bị kết án về tội Trộm cắp tài sản nay lại tiếp tục phạm tội. Chứng tỏ bị cáo không có ý thức chấp hành pháp luật và coi thường tài sản hợp pháp của công dân.
Tuy nhiên khi lượng hình cần lưu ý xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như hành vi phạm tội của bị cáo chưa gây thiệt hại và trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bên cạnh đó, bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ học vấn thấp, có nhận thức về pháp luật, xã hội còn hạn chế, sinh sống ở vùng đặc biệt khó khăn của huyện Krông Pa. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng cho bị cáo R’Ô V khi lượng hình được quy định tại Điểm h, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất, mức độ gây nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng nhân thân của bị cáo V, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt nghiêm, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét quan điểm bào chữa của trợ giúp viên pháp lý và quan điểm luận tội của đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã chiếm đoạt của anh Nay Su R 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu hồng- xám; model: SM-G52G/DS (đã qua sử dụng); 01 cục sạc pin nhãn hiệu Samsung màu trắng và 01 Sim Viettel số 01656256860 không có tiền trong tài khoản, có tổng trị giá là 2.570.000 đồng. Sau khi tội phạm bị phát hiện, cơ quan điều tra đã thu giữ và trả lại 01 chiếc điện thoại di động, 01 cục sạc pin và 01sim Viettel trên cho người bị hại anh Nay Su R. Trong quá trình điều tra cũng như các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, giữa bị cáo và người bị hại không có bên nào còn tranh chấp, yêu cầu và đề nghị gì khác nên trách nhiệm dân sự trong vụ án, Hội đồng xét xử không phải xem xét giải quyết.
Về án phí: Buộc bị cáo R’Ô V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QU ẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo R’Ô V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo R’Ô V 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ là ngày 07/02/2018.
2. Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 23 Nghi quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án: Buộc bị cáo R’Ô V phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (06/6/2018), người bị hại anh Nay Su R vắng mặt có quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Gia Lai (01 bản);
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà
- VKSND h. Krông Pa (02 bản);
- Công an h. Krông Pa (03 bản);
- Bị cáo (01 bản);
- Bị hại (01 bản); -Chi cục THADS h. Krông Pa (01 bản); -Lưu HS vụ án, THA hình sự (02 bản).
Ksor Pep Thành viên của hội đồng xét xử
-
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn iễu - hùng Thị Tố Trinh
Ksor Pep
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Gia Lai (01 bản); - VKSND h. Krông Pa (02 bản); - Công an h. Krông Pa (03 bản); - Bị cáo (01 bản); - Bị hại (03 bản); -Người có QLNVLQ (04 bản); -Chi cục THADS h. Krông Pa (01 bản); -Lưu HS vụ án, THA hình sự (02 bản). CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN hùng Thị Tố Trinh Nguyễn Thị ý | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Ksor Pep THẨM HÁN- CHỦ TỌA HIÊN TÒA Ksor Pep |