vanban.org

Bản án 19/2018/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Cà Mau Tuyên án 09/03/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 09/03/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 224/2017/HS-ST ngày 04 tháng 12 năm 2017 của Toà án nhân dân thành phố Cà M về hình phạt.

Án phí hình sự phúc thẩm bị cáo V không phải chịu. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh V - Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự…"
  • Tòa quyết gì? Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 224/2017/HS-ST ngày 04 tháng 12 năm 2017 của Toà án nhân dân thành phố Cà M về hình phạt.
  • Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2018/HS-PT
Ngày 09 - 3 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chung Văn Kết

Các Thẩm phán: Ông Trần Trọng Nhân

Bà Châu Minh Hoàng

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi V Phong là Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa:

Bà Lê Kiều Diễm - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 3 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 11/2018/TLPT-HS ngày 11 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo Nguyễn Thanh V do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 224/2017/HS-ST ngày 04 tháng 12 năm 2017 của Toà án nhân dân thành phố Cà M

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thanh V, sinh năm 1984 tại thành phố Cà M, tỉnh Cà Mau.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khóm 4, Phường 1, thành phố Cà M, tỉnh Cà Mau; Tạm trú: Khóm 3, phường Tân X, thành phố Cà M, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con bà Nguyễn Thị N (Cha không xác định được họ và tên); Vợ: Võ Thị Phương M; con: 01 đứa sinh năm 2016; Tiền án: không; Tiền sự: 01 lần, ngày 29/3/2016 bị Công an Phường 7, thành phố Cà M ra Quyết định số 61 xử phạt hành chính 200.000 đồng về hành vi gây rối trật tự công cộng. Bị cáo bị bắt tạm giam kể từ ngày 04/12/2017 cho đến nay. (có mặt).

- Bị hại: Bà Trịnh Thị V1, sinh năm 1963. Địa chỉ: Số 27/12, đường Phan Ngọc Hiển, Khóm 3, Phường 5, thành phố Cà M, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Trương Thị Hồng N2, sinh năm 1996. Địa chỉ: Số 27/12, đường Phan Ngọc Hiển, Khóm 3, Phường 5, thành phố Cà M, tỉnh Cà Mau. (vắng mặt)

2. Chị Võ Thị Phương M, sinh năm 1983. Địa chỉ: Khóm 3, phường Tân X, thành phố Cà M, tỉnh Cà Mau (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ ngày 22 tháng 3 năm 2017, Nguyễn Thanh V cùng vợ là Võ Thị Phương M đang dọn hàng bán tại Quầy số 3 – 4 tại Chợ đêm Phường 7, thành phố Cà M thì giữa M và bà Trịnh Thị V1 bán hàng tại Quầy số 1 – 2 xảy ra cự cãi với nhau. Trong lúc cãi nhau, Trương Thị Hồng N2 là con gái của bà V1 dùng ghế nhựa ném về phía chị M nhưng không trúng. Lúc này, chị M lấy một đoạn tre dài khoảng 03 – 04 mét xông qua quầy của bà V1 thì V giật cây lại. Lúc này, N2 xông vào, dùng tay nắm tóc chị M, bà V1 cũng dùng cây tre dài khoảng 02 mét đánh chị M. Thấy vợ bị đánh nên V lấy 01 đoạn cây tre dài 2,2m; đường kính 03 cm đánh bà V1 thì được Nguyễn Thanh Tùng, bạn của N2 ôm lại can ngăn nhưng V thoát ra và tiếp tục cầm cây tre đánh từ trên xuống vùng đầu của bà V1 một cái gây thương tích rồi bỏ đi.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 72/2017/TGT ngày 30/6/2017 của Viện pháp y Quốc gia – Phân viện Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của Trịnh Thị V1 là 11%.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 224/2017/HS-ST ngày 04 tháng 12 năm 2017 của Toà án nhân dân thành phố Cà M quyết định:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh V phạm tội “Cố ý gây thương tích”

- Áp dụng khoản 2, Điều 104; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự; Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh V 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính ngày tuyên án. Tuyên bố bắt và tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo pháp luật quy định.

Ngày 14 tháng 12 năm 2017, bị cáo Nguyễn Thanh V có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo V giữ nguyên nội dung kháng cáo, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như án sơ thẩm đã xét xử.

- Bị hại Nguyễn Thị V1 xin giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Vào khoảng 16 giờ ngày 22 tháng 3 năm 2017, Trịnh Thị V1 cùng con gái là Trương Thị Hồng N2 có cự cãi, đánh nhau với chị Võ Thị Phương M là vợ của bị cáo Nguyễn Thanh V. Lúc này, bị cáo V lấy 01 đoạn cây tre dài 2,2m; đường kính 03 cm xông vào đánh bị hại V1 thì được anh Nguyễn Thanh Tùng, (bạn của N2) ôm lại can ngăn nhưng bị cáo thoát ra và tiếp tục cầm cây tre đánh từ trên xuống vùng đầu của bị hại V1 một cái làm gây thương tích vùng mắt phải với tỷ lệ tổn thương là 11%. Do đó, bản án hình sự sơ thẩm số 224/2017/HSST ngày 04 tháng 12 năm 2017 của Toà án nhân dân thành phố Cà M xét xử bị cáo Nguyễn Thanh V phạm tội “Cố ý gây thương tích” là có căn cứ.

Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh V thấy rằng: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của bị hại một cách trái pháp luật. Do đó, án sơ thẩm áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là cần thiết.

Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do con còn nhỏ, vợ bỏ đi. Nhưng các lý do này không được xem là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 cũng như Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại V1 xin giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, đây là tình tiết giảm nhẹ mới chưa được Tòa sơ thẩm xem xét. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ mới là bị hại xin giảm nhẹ hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999 (khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015) để chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về áp dụng pháp luật: Theo chính sách hình sự mới thì quy định về tội “Cố ý gây thương tích” quy định ở khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 (cao nhất đến 06 năm) có mức hình phạt nhẹ hơn Bộ luật Hình sự năm 1999 (cao nhất đến 07 năm). Do đó, cấp phúc thẩm cần áp dụng Bộ luật hình sự hiện hành về tội “Cố ý gây thương tích” nhằm đảm bảo nguyên tắc có lợi cho bị cáo.

Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các nội dung khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự;

1. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 224/2017/HS-ST ngày 04 tháng 12 năm 2017 của Toà án nhân dân thành phố Cà M về hình phạt.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh V 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 04/12/2017.

2. Án phí hình sự phúc thẩm bị cáo V không phải chịu.

3. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ