vanban.org

Bản án 19/2018/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 13/04/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 13/04/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Minh T; Sửa bản án sơ thẩm.

Quyết định tạm giam bị cáo Hoàng Minh T 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án phúc thẩm để đảm bảo thi hành án. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Minh T phạm tội Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Minh T; Sửa bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Hình sự; Điều 33 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2018/HS-PT
Ngày: 13/4/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Công Đồng.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Minh.

Bà Nghiêm Thị Lượng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Ngô Xuân Quý - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 13 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 42/2018/TLPT-HS ngày 28 tháng 02 năm 2018 đối với bị cáo Hoàng Minh Tiến, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án sơ thẩm số: 66/2018/HSST ngày 15/01/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

Bị cáo có kháng cáo:

Hoàng Minh T, sinh năm 1994; Nơi cư trú: thôn H, xã N, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn; 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Minh Q (đã chết) và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1976; Gia đình có 3 anh em, bị cáo là lớn nhất. Tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/8/2017. Có mặt tại phiên tòa.

Trong vụ án này còn có bị cáo Nguyễn Văn T1, người bị hại chị Hoàng Thị R và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị N không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 6h30’ ngày 24/8/2017, Hoàng Minh T điều khiển xe mô tô BKS 12K9-2212 đến nhà Nguyễn Văn T1 chơi. Sau đó, T1 rủ T đi xe ra khu công nghiệp Q xem ai để tài sản sơ hở thì cướp. T đồng ý và điều khiển xe chở T1 ngồi sau. Khi đi đến đoạn đường liên xã thuộc thôn Đ, xã S, thành phố B thì phát hiện thấy chị Hoàng Thị R đang đi bộ trên đường và có cất chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo Neo9 màu vàng tại túi quần phía sau bên trái. T1 bảo T quay xe lại đi cùng chiều áp sát bên trái chị R để T1 ngồi sau dùng tay phải lấy chiếc điện thoại của chị R. Chị R chạy theo túm được áo mưa của T1 làm xe mô tô do T điều khiển bị đổ ra đường, lúc này chị R vẫn giữ áo mưa của T1 không cho đi thì T1 nhặt điện thoại bị rơi ở đường trả lại chị R. Sau đó, T1 chạy lên núi Đ rồi đi về nhà, còn T dựng xe chạy về làng Giang Liễu, xã Phương Liễu, huyện Q sửa xe. Trong lúc T đang sửa xe thì bị Công an xã S đến đưa T về trụ sở làm việc.

Tại cơ quan điều tra, T và T1 đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Quá trình chị R bị T1 và T cướp giật tài sản, chị đuổi theo túm áo mưa của T1 và cũng bị ngã nhưng thương tích nhẹ, chị R có đơn từ chối giám định và không yêu cầu bị cáo T1 và T phải bồi thường thương tích.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 525/KL-HĐ ngày 25/9/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, UBND thành phố B kết luận: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo Neo9 màu vàng đã qua sử dụng có giá 3.290.000 đồng.

Quá trình điều tra T1 còn khai nhận: khoảng 18h một ngày đầu tháng 8/2017, T1 đi xe buýt lên khu công nghiệp Q xem ai có tài sản sơ hở thì cướp giật. Khi T1 đi đến đoạn ngã ba lối rẽ vào khu công nghiệp Q thì xuống xe và đi bộ trên đường. T1 gặp một người phụ nữ khoảng 20 tuổi mặc quần áo công nhân đang đứng đợi sang đường. T1 phát hiện túi quần sau bên trái chị này có 01 chiếc điện thoại di động Oppo hở 1/3 thân máy nên đã tiến lại gần dùng tay phải giật chiếc điện thoại trên rồi bỏ chạy qua đường về thôn Do Nha, xã Phương Liễu, huyện Q rồi đi vòng xuống đường QL 18 đón xe về nhà rồi tháo sim điện thoại vứt đi. Sau đó, T1 mang chiếc điện thoại bán cho cửa hàng điện thoại của anh Nguyễn Kim Huấn được 2.600.000 đồng. Ngày 24/8/2017, anh Huấn đã giao nộp chiếc điện thoại trên cho cơ quan CSĐT công an thành phố B để điều tra.

Ngày 08/11/2017, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã trả lại cho chị R chiếc điện thoại Oppo Neo9 và chị R không yêu cầu T1, T phải bồi thường.

Với nội dung trên, bản án sơ thẩm số: 66/2018/HSST ngày 15/01/2018 của Tòa án nhân dân thành phố B đã tuyên xử bị cáo Nguyễn Văn T1 và Hoàng Minh T phạm tội “Cướp giật tài sản”. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 136; điểm b khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự 1999; Xử phạt Nguyễn Văn T1 48 tháng tù, Hoàng Minh T 42 tháng tù.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 27/01/2018, bị cáo Hoàng Minh T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã xét xử. T cho rằng hình phạt của án sơ thẩm là nặng vì bị cáo có thời gian phục vụ trong quân đội, là lao động chính trong gia đình nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa đã phân tích hành vi phạm tội, đánh giá các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho rằng bị cáo T có tình tiết giảm nhẹ mới là đã có thời gian phục vụ trong quân đội, hoàn thành nghĩa vụ của công dân nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, giảm hình phạt cho bị cáo còn 36 tháng tù.

Bị cáo T không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai của bị cáo T tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của T1, người bị hại và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ, do vậy có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 06h30’ ngày 24/8/2017, Hoàng Minh T đã có hành vi điều khiển xe mô tô BKS 12K9-2212 chở Nguyễn Văn T1 ngồi sau để T1 dùng tay phải giật chiếc điện thoại Oppo Neo 9 màu vàng trị giá 3.290.000 đồng của chị Hoàng Thị R. Do vậy, Bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo Hoàng Minh T phạm tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của Hoàng Minh T, Hội đồng xét xử thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.

Trong vụ án này, sau khi bị rút điện thoại, chị R có đuổi theo và giữ áo mưa của T1, sau đó T1 đã nhặt điện thoại ở đường trả lại cho chị R, mặc dù việc T1 phải trả điện thoại cho chị R là do chị R giữ tài sản của mình, không phải do T1, T muốn trả nhưng người bị hại chưa bị thiệt hại về tài sản. Như vậy, cần áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ “phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại” theo điểm g khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Bị cáo cũng có thời gian phục vụ trong quân đội, đã hoàn thành nghĩa vụ của công dân, quá trình chị R giữ tài sản có bị ngã nhưng chỉ thương tích nhẹ và không yêu cầu giám định, bồi thường thương tích nên Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo. Sửa bản án sơ thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 357; Điều 347 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Minh T; Sửa bản án sơ thẩm.

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 136; điểm b, g khoản 1 Điều 46; khoản 2 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự 1999: Xử phạt bị cáo Hoàng Minh T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 24/8/2017.

Quyết định tạm giam bị cáo Hoàng Minh T 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án phúc thẩm để đảm bảo thi hành án.

2. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Bị cáo Hoàng Minh T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ