- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NGUYỄN THỊ H - NGUYỄN HOÀNG V"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 19/2018/HNGĐ-ST Ngày: 19 – 4 – 2018 V/v: Tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Huỳnh Minh Trí.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Ngọc Hồng
2. Bà Trần Ngọc Phương
- Thư ký phiên toà: Bà Đậu Thị Loan.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương: Ông Bùi Văn Hiền – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 130/2018/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 02 năm 2018 về tranh chấp “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2018/QĐXXST- HNGĐ ngày 06/4/2018, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1983; trú tại: Khu phố Đ, phường V, thị xã T, tỉnh Bình Dương, có mặt.
Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng V, sinh năm 1988; trú tại: Khu phố Đ, phường V, thị xã T, tỉnh Bình Dương, có yêu cầu xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện ngày 30 tháng 01 năm 2018, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:
Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Hoàng V tự nguyện tìm hiểu, sau đó tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 25, quyển số 01/2015 ngày 04/11/2015. Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng đến khoảng tháng 7/2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bà Nguyễn Thị H không sinh con nên ông Nguyễn Hoàng V chán nản, thường xuyên nhậu nhẹt, vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi vả nhau. Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Hoàng V đã sống riêng với nhau từ tháng 7/2016 cho đến nay.
Nhận thấy không còn tình cảm với ông Nguyễn Hoàng V, mục đích hôn nhân không đạt được, hai vợ chồng không thể quay về sống đoàn tụ, hạnh phúc nên bà Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu giải quyết như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng V.
- Về con chung: Không có.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết
* Bản tự khai ngày 09 tháng 3 năm 2018, bị đơn - ông Nguyễn Hoàng V trình bày:
Ông Nguyễn Hoàng V thống nhất với bà Nguyễn Thị H về thời gian, điều kiện kết hôn và con chung.
Về mâu thuẫn vợ chồng, ông Nguyễn Hoàng V xác định do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên cãi vả nhau. Nay, bà Nguyễn Thị H nộp đơn yêu cầu ly hôn thì ông Nguyễn Hoàng V đồng ý ly hôn với bà Nguyễn Thị H.
Về con chung: Quá trình chung sống ông Nguyễn Hoàng V và bà Nguyễn Thị H không có con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Tính đến ngày Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử, vụ án còn trong thời hạn chuẩn bị xét xử theo điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ vào kết qủa tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn nên quan hệ pháp luật trong vụ án này được xác định là “Ly hôn” theo Khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn – ông Nguyễn Hoàng V có nơi cư trú tại khu phố Đ, phường V, thị xã T, tỉnh Bình Dương vì vậy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương là Tòa án có thẩm quyền giải quyết.
Về thời hiệu: Việc nguyên đơn yêu cầu giải quyết việc ly hôn với bị đơn là quyền yêu cầu bảo vệ về nhân thân nên theo Điều 155 Bộ luật dân sự không tính thời hiệu khởi kiện.
Về việc xét xử vắng mặt: Bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, vì vậy Hội đồng xét xử xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại Khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn được xác lập trên cơ sở tự nguyện vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh H, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 25, quyển số 01/2015 ngày 04/11/2015 nên là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình tố tụng cũng như tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn xác định từ khoảng tháng 7/2016 giữa nguyên đơn và bị đơn phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không có con nên thường xuyên gây gỗ, cãi vả nhau, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Vợ chồng đã sống riêng với nhau từ tháng 7/2016 cho đến nay, không ai quan tâm chăm sóc cho nhau. Hiện nay, nguyên đơn xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn với bị đơn.
Bị đơn cũng xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài nên đồng ý ly hôn với nguyên đơn.
Xét thấy, quan hệ hôn nhân tồn tại bền vững dựa trên tình cảm của vợ chồng, sống có trách nhiệm, thương yêu, chăm sóc, quan tâm lẫn nhau. Nhưng quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn không đạt được các yếu tố của một gia đình hạnh phúc, mỗi người có một cuộc sống riêng, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Do tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc ly hôn với bị đơn.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn và bị đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 147; Khoản 1 Điều 227; Điều 266; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 155 Bộ luật dân sự
- Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn- bà Nguyễn Thị H đối với bị đơn - ông Nguyễn Hoàng V, về việc “Ly hôn”.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng V
- Về con chung: Không có.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0023012 ngày 07/02/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./..
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND cùng cấp; - Chi cục THADS cùng cấp; - UBND Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; - Chánh án (để báo cáo); - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Huỳnh Minh Trí |