vanban.org

Bản án 19/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa Nguyễn Thị C với Huỳnh Văn C.

Về án phí và tạm ứng án phí: Nguyễn Thị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số: 00721, ngày 13/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng T…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa Nguyễn Thị C với Huỳnh Văn C.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LAI VUNG
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2018/ HNGĐ-ST
Ngày: 02-3-2018.
V/v tranh chấp về hôn nhân - gia
đình ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Tô Hoàng Vũ.

Ông Nguyễn Chí Công.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Dũng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 02 tháng 3 năm 2018 tại phòng xử án trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 303/2017/TLST-HNGĐ, ngày 13/10/2017 “V/v tranh chấp về hôn nhân - gia đình ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2018/QĐXXST-HNGĐ, ngày 19 tháng 01 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Nguyễn Thị C - Sinh năm: 1971.

Địa chỉ: thị trấn LV, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

Tạm trú: ấp TL, thị trấn SS, huyện Hòa Đất, tỉnh Kiên Giang. (Có mặt tại phiên tòa).

- Bị đơn: Huỳnh Văn C - Sinh năm: 1970.

Địa chỉ: thị trấn LV, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. (Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 20/9/2017 và tại phiên tòa nguyên đơn Nguyễn Thị C trình bày:

Vào năm 1996 Nguyễn Thị C và Huỳnh Văn C kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn LV, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp ngày 08/01/1996. Vợ chồng có con chung là Huỳnh Thị Thùy Dương, sinh ngày 11/6/1997. Trong quá trình sống chung có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không hợp nhau, nên tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng đã ly thân từ tháng 8/2009 đến nay, hôn nhân không thể tiếp tục kéo dài. Nay Nguyễn Thị C yêu cầu được ly hôn với Huỳnh Văn C; Về con chung do Huỳnh Thị Thùy Dương, sinh ngày 11/6/1997 đã trưởng thành nên Nguyễn Thị C không yêu cầu giải quyết; Về tài sản và nợ chung Nguyễn Thị C không yêu cầu giải quyết.

Huỳnh Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như để tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt, không có lý do. Nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với Huỳnh Văn C theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hôn nhân: Nguyên đơn Nguyễn Thị C và bị đơn Huỳnh Văn C kết hôn năm 1996 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn LV, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp ngày 08/01/1996 theo quy định, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình chung sống có nhiều mâu thuẩn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không hợp nhau, nên tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng đã ly thân từ tháng 8/2009 đến nay, hôn nhân không thể tiếp tục kéo dài. Mặc dù, Tòa án đã kiên trì hòa giải nhưng Nguyễn Thị C vẫn cương quyết xin ly hôn với Huỳnh Văn C, tình trạng hôn nhân của Nguyễn Thị C và Huỳnh Văn C cũng được chứng minh bằng hành động cụ thể Huỳnh Văn C không chấp hành các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải của Tòa án để được hòa giải đoàn tụ, bỏ mặc không ý kiến gì, đồng thời cố ý không chấp hành pháp luật, xét thấy mâu thuẫn của Nguyễn Thị C và Huỳnh Văn C là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cho nên việc Nguyễn Thị C xin ly hôn là thỏa mãn các điều kiện theo Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của Nguyễn Thị C với Huỳnh Văn C là có căn cứ.

[2] Về con chung: Nguyễn Thị C và Huỳnh Văn C có con tên Huỳnh Thị Thùy Dương, sinh ngày 11/6/1997, do Huỳnh Thị Thùy Dương đã trưởng thành nên Nguyễn Thị C không yêu cầu Tòa án án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt thành vấn đề xem xét, giải quyết.

[3] Về tài sản và nợ chung: Nguyễn Thị C không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt thành vấn đề xem xét, giải quyết.

[4] Về án phí: Nguyễn Thị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân là có căn cứ, phù hợp với khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn và nhân gia đình; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa Nguyễn Thị C với Huỳnh Văn C.

2. Về án phí và tạm ứng án phí: Nguyễn Thị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số: 00721, ngày 13/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp (Nguyễn Thị C đã nộp xong).

3. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (02/3/2018). Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa ngày 02/3/2018 thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ