- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp thay đổi người trực tiếp sau ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn P. Giao cháu Nguyễn Thanh P – sinh ngày 10/01/2011 cho anh Nguyễn P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
- Căn cứ chính? Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC PHỔ TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2018/HNGĐ-ST Ngày 06-9-2018 V/v tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC PHỔ - TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đức Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Văn Chuyên 2. Bà Nguyễn Duy Thị Anh Phương
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Cường – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 32/2018/ TLST - HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2018 về tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2018/QĐXXST-HNGĐ, ngày 14/8/2018 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn P – sinh năm 1979, trú tại khu dân cư số A, thôn N, xã X, huyện Y, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt
Bị đơn: Chị Dương Thị H – sinh năm 1985, trú tại khu dân cư số B, thôn M, xã X, huyện Y, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn yêu cầu ngày 26/5/2017 được sửa đổi, bổ sung ngày 23/7/2017 và ngày 12/10/2017; các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn là anh Nguyễn P trình bày: Năm 2016, Tòa án nhân dân huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi giải quyết cho ly hôn giữa anh với chị Dương Thị H. Theo bản án số 42/2016/HNGĐ-ST ngày 19/8/2016 của Tòa án nhân dân huyện Đức Phổ đã giao cháu Nguyễn Thanh P cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu Nguyễn Thanh T cho anh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, chị H không nhận nuôi, cũng không quan tâm gì đến cháu P, một mình anh phải nuôi hai con từ khi ly hôn cho đến nay. Vì thấy chị H không có trách nhiệm và cũng không quan tâm đến con nên anh P yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và anh được trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Thanh P, yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000đồng cho đến khi cháu P đủ 18 tuổi.
Tại văn bản trình bày ý kiến ngày 09/4/2018, biên bản lấy lời khai ngày 10/8/2018, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn là chị Dương Thị H trình bày: Sau khi bản án số: 42/2016/HNGĐ-ST ngày 19/8/2016 của Tòa án nhân dân huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi có hiệu lực, Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Đức Phổ tiến hành thi hành án về phần con chung tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện Y, tỉnh Quảng Ngãi. Tại buổi thi hành án, cháu Nguyễn Thanh P không chịu theo chị mà cứ theo ôm anh P nên từ đó đến nay anh P là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu P. Vì bận công việc làm ăn xa nên mỗi dịp tết chị mới về thăm con nhưng anh P không cho gặp con. Nay đối với yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con của anh P chị không đồng ý nhưng nếu anh P cương quyết yêu cầu được nuôi cháu P thì chị không cấp dưỡng nuôi con.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Phổ tại phiên tòa:
- Về chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn chị Dương Thị H vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy: Nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận sau khi bản án số 42/2016/HNGĐ-ST ngày 19/8/2016 của Tòa án nhân dân huyện Đức Phổ có hiệu lực pháp luật, vào ngày 02/3/2017 Chi cục Thi hành dân sự huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi tiến hành thi hành án bản án của Tòa án nhân dân huyện Đức Phổ tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã X. Tại buổi thi hành án cơ quan thị hành án huyện Đức Phổ đã giao cháu Nguyễn Thanh P – sinh ngày 10/01/2011 cho chị Dương Thị H đã nhận, nhưng cháu P không về với chị H mà theo ôm anh P nên chị H để anh P nuôi con từ đó cho đến nay.
Xét thấy hiện nay chị H chưa có nhà ở ổn định, phải thuê nhà ở thành phố Hồ Chí Minh sinh sống, còn đối với anh P có công việc làm và nhà ở ổn định. Mặt khác tại biên bản lấy lời khai cháu P vào ngày 14/8/2018 có sự chứng kiến của chị H và anh P; cháu P trình bày cháu có nguyện vọng được ở với anh P vì từ khi bố mẹ cháu ly hôn tới giờ anh P nuôi dạy cháu ăn học tốt, anh em cháu ở với nhau hòa thuận. Sau khi cháu P trình bày nguyện vọng của mình; cùng ngày Tòa án tiến hành hòa giải chị H trình bày trường hợp anh P cương quyết yêu cầu nuôi cháu P thì chị đồng ý nhưng chị không đồng ý cấp dưỡng nuôi con.
Để đảm bảo về quyền lợi cũng như sự phát triển về mọi mặt của cháu P, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh P về việc thay đổi người nuôi con sau ly hôn; giao cháu P cho anh P được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Về yêu cầu cấp dưỡng cho con của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Mặc dù hiện nay anh P có nghề nghiệp ổn định thu nhập bình quân 10.000.000 đồng/tháng; tuy nhiên anh P một mình phải trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung, các cháu đang trong độ tuổi ăn học, phát triển. Chị H công nhận thu nhập bình quân của chị là 10.000.000 đồng/ tháng; như vậy anh P yêu cầu chị H cấp dưỡng cho cháu P mỗi tháng 1.000.000đồng là có cơ sở, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Anh Nguyễn P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Chị Dương Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận và án phí cấp dưỡng nuôi con.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 21, khoản 3 Điều 28, khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn P. Giao cháu Nguyễn Thanh P – sinh ngày 10/01/2011 cho anh Nguyễn P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Dương Thị H có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu P mỗi tháng 1.000.000đồng (một triệu đồng) cho đến khi cháu P đủ 18 tuổi. Thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày 06/9/2018. Chị Dương Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thi hành hết các khoản phải thi hành thì phải chịu mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
2. Về án phí: Chị Dương Thị H phải chịu 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm và 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con. Anh Nguyễn P không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho anh Nguyễn P 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2014/0003983 ngày 27/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự
Anh Nguyễn P có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Chị Dương Thị H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
| Nơi nhận : - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND huyện Đức Phổ; - Các đương sự; - Chi cục THA Dân sự H. Đức Phổ; - UBND xã Phổ X; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Nguyễn Văn Đức |