vanban.org

Bản án 19/2018/DSPT — Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 14/08/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của anh Hồ Xuân Th (Hồ Văn Th).

Xử chia cho anh Hồ Xuân Th (Hồ Văn Th) sở hữu 01 ngôi nhà má i bằ ng mộ t tầ ng diệ n tí ch 47,65 m2; 01 mái tôn diện tích 16,2 m2; cổ ng bằng sắt hộp diện tích 29,56 m2 và tường bao (kích thước dài 6,7 m; cao 1,3 m) và sử dụng diện tích đấ t 248 m2 tại thửa đất đất số 606, tờ bản đồ số 6 … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Doãn Thị H - Hồ Xuân Th"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của anh Hồ Xuân Th (Hồ Văn Th).
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 29 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 357 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2018/HNGĐ-PT
Ngày 14-8-2018
V/v Tranh chấp chia tài sản sau ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Hà

Các Thẩm phán:

Bà Nguyễn Thị Lan Anh.

Bà Lương Hải Yến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Trinh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình: Bà Bùi Thị Thúy Hằng

- Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Ngày 14 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 11/2018/TLPT-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2018 về việc “Tranh chấp chia tài sản sau ly hôn”.

Do bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 12/2018/HNGĐ-ST ngày 09 tháng 3 năm 2018 của Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 40/2018/QĐPT-HNGĐ ngày 20 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Doãn Thị H (Roãn Thị H), sinh năm 1977.

Nơi ĐKHKTT: thôn H, xã Đ, huyện T H, tỉnh Thái Bình; địa chỉ hiện nay: thôn Đ, xã T, huyện T H, tỉnh Thái Bình.

- Bị đơn: Anh Hồ Xuân Th (Hồ Văn Th), sinh năm 1974.

Địa chỉ cư trú: thôn H, xã Đ, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

- Người kháng cáo: Anh Hồ Xuân Th (Hồ Văn Th) là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn là chị Doãn Thị Huế trình bày và có yêu cầu khởi kiện như sau:

Chị H và anh Th kết hôn năm 1994 đến năm 2013 vợ chồng đã ly hôn theo bản á n số 21/2013/HNGĐ-ST ngà y 04/9/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình. Khi giải quyết ly hôn chị H không có mặt, nên Tòa án chưa giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng, nay chị H làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung giữa chị H và anh Th có trước khi ly hôn.

Chị H và anh Th có tài sản chung gồm: 01 nhà mái bằng và công trình phụ, diện tích sử dụng khoảng 100 m2 xây trên diện tích 248 m2 tại thôn Hưng Long Nam, xã Đông Long, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình; 01 xe máy anh Th đang sử dụng; 01 bộ bàn ghế gỗ; 01 tủ lạnh; 01 tivi; 01 tủ đứng bằng gỗ. Nguồ n gốc diện tích đất là bố mẹ anh Th cho vợ chồng, đã được Ủy ban nhân dân huyện Tiền Hải cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 1997. Anh Th khai có vay 90.000.000 đồng để chữa bệnh và làm cổng, dậu là không đúng. Chị H và anh Th không vay nợ chung tài sản của ai, chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết về nợ giữa chị H và anh Th.

Do anh Th không chấp nhận các tài sản: 01 xe máy; 01 bộ bàn ghế gỗ; 01 tủ lạnh; 01 tivi; 01 tủ đứng bằng gỗ; 01 bể nước mưa là tài sản chung. Nên chị H đồng ý rút các yêu cầu chia tài sản này và t ại phiên tòa sơ thẩm chị H yêu cầu chia đôi cho chị H và anh Th tài sản chung gồm: Diện tích đất 248 m2 giá trị: 124.000.000 đồ ng; nhà giá trị còn lại: 20.569.000 đồ ng; mái tôn giá trị còn lại: 1.215.000 đồ ng; tường dậu giá trị còn lại: 245.000 đồ ng. Tổng giá trị tài sản: 149.133.000 đồng.

Chị H yêu cầu nếu anh Th ở nhà và sử dụng đất thì phải thanh toán cho chị H ½ giá trị tài sản hoặc chị H xin ở nhà, sử dụng đất, chị H sẽ thanh toán cho anh Th ½ giá trị tài sản. Chị H tự nguyện nộp cả 2.000.000 đồ ng chi phí định giá tài sản.

- Bị đơn là anh Hồ Xuân Th trình bày: Anh Th và chị H kết hôn năm 1994, năm 2013 vợ chồng đã ly hôn nhưng chưa giải quyết chia tài sản chung. Anh Th và chị H có tài sản chung gồm: 01 nhà mái bằng 43,6m2 và công trình phụ 26,4m2, bể nước mưa 20m2 tất cả đều xây trên diện tích đất 238,5m2 tại thôn Hưng Long Nam, xã Đông Long, huyện Tiền Hả, tỉnh Thái Bình. Trướ c khi ly hôn , anh Th và chị H còn vay nợ 90.000.000 đồ ng để anh Thị nh chữa bệnh và làm cổng, tường dậu.

Anh Th không đồng ý chia tài sản chung cho chị H vì chị H có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác, chị H đã lấy tiền của anh Th để đưa cho người đàn ông đó. Quá trình thụ lý , điề u tra vụ á n anh Th không yêu cầu Tòa án giải quyết khoản vay 90.000.000 đồ ng. Tại phiên tòa sơ thẩm anh Th yêu cầu Tòa án giải quyết chia khoản nợ 90.000.000 đồ ng, chị H phải có trách nhiệm trả cùng anh Th.

Bản án sơ thẩm số 12/2018/CTSC-ST ngà y 09/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải: Áp dụng Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 357, 468 Bộ luật Dân sự; Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

- Xử: Xác định khối tài sản chung của anh Hồ Xuân Th và chị Doãn Thị H gồm: Diện tích đất 248 m2, nhà mái bằng, mái tôn, tường dậu. Tổng giá trị tài sản: 149.133.000 đồ ng.

- Chia cho anh Hồ Xuân Th các tài sản sau: Được sử dụng diện tích đất 248m2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H515901 vào sổ số 1060 mang tên ông Hồ Văn Th tại thôn Hưng Long Nam, xã Đông Long, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Được sử dụng nhà mái bằng, mái tôn, tường dậu. Tổng giá trị tài sản: 149.133.000đ.

- Anh Hồ Xuân Th phải thanh toán cho chị Doãn Thị H ½ giá trị tài sản chung: 149.133.000đ : 2 = 74.566.500 đồ ng.

- Chia cho chị Doãn Thị H: Được hưởng số tiền anh Th thanh toán về tài sản chung: 74.566.500 đồ ng.

- Về á n phí :

+ Chị Doãn Thị H phải nộp 3.728.000 đồ ng á n phí chia tà i sả n nhưng đượ c trừ và o số tiề n 12.000.000 đồ ng đã nộ p tạ m ứ ng á n phí chị H đã nộ p theo Biên lai thu tạ m ứ ng á n phí số 0008449 ngày 17/10/2017 tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyệ n Tiề n Hả i. Trả lại chị H số tiề n 8.272.000 đồ ng tiề n tạ m ứ ng á n phí .

+ Anh Hồ Xuân Th phải nộp 3.728.000 đồ ng á n phí chia tà i sả n.

- Về chi phí định giá tài sản: Chị H tự nguyện nộp cả 2.000.000 đồng tiền chi phí định giá tài sản (Chị H đã nộp xong).

Ngoài ra án còn tuyên về quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo của đương sự.

- Ngày 20/3/2018, anh Hồ Xuân Th có Đơn kháng cáo vớ i nộ i dung không đồ ng ý việ c Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải chia quyền sử dụng đất ở, vì diện tích đấ t nà y là do bố mẹ anh Th cho riêng anh Th. Nế u chia tà i sả n, thì chị H phải trả số tiề n 5.600 USD mà anh Th đã bả o lã nh và bỏ ra cho chị H đi xuấ t khẩ u lao độ ng tạ i Đà i Loan. Nế u không trả đủ số tiề n 5.600 USD thì anh T h không đồ ng ý chia tà i sản.

- Ngày 15/6/2018, anh Hồ Xuân Th có bản tự khai bổ sung yêu cầu kháng cáo yêu cầu phải giải quyết khoản nợ 90.000.000 đồ ng mà anh Th đã thanh toá n trả, rồ i mớ i chia giá trị cò n lạ i củ a ngôi nhà cho chị H; anh Th yêu cầ u chị Huế phải trả số tiền 5.600 USD mà anh Th đã bỏ ra để cho chị H đi xuấ t khẩ u lao độ ng và phải trả số tiền 15.000.000 đồ ng mà chị H mang đi cho ngườ i đà n ông khá c.

- Tại phiên tòa phúc thẩm:

Anh Th vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, không chấp nhận chia diện tích đất, chỉ chấp nhận chia các tài sản trên đất với điều kiện chị H phải thanh toán các khoản nợ cho anh Th.

Chị H có quan điểm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo củ a anh Th, đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu kháng cáo của anh Th, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu quan điểm và đề xuất hướng giải quyết vụ án:

+ Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, những người tiến hành tố tụng và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự bác yêu cầu kháng cáo của anh Th, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, cũng như thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Xét thấy, anh Hồ Xuân Th có Đơn kháng cáo ngà y 20/3/2018 vớ i nộ i dung không đồ ng ý việ c Tò a á n nhân dân huyệ n Tiề n Hải chia quyề n sử dụ ng đấ t ở , vì diện tích đất này là do bố mẹ anh Th cho riêng anh Th. Nế u chia tà i sả n , thì chị H phải trả số tiền 5.600 USD mà anh Th đã bả o lã nh và bỏ ra cho chị H đi xuấ t khẩ u lao độ ng tạ i Đà i Loan , nế u không trả đủ số tiề n 5.600 USD thì anh Th không đồ ng ý chia tà i sả n là trong thời hạn kháng cáo là hợp lệ và đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm, được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Đối với các yêu cầu mà anh Hồ Xuân Th bổ sung ngày 15/6/2018 về việ c yêu cầ u Tò a á n giả i quyế t khoả n nợ 90.000.000 đồ ng mà anh Th đã thanh toá n trả và yê u cầ u chị H phải trả số tiền 15.000.000 đồ ng mà chị H mang đi cho ngườ i đà n ông khá c là vượ t quá thời hạn kháng cáo ban đầu khi đã hết thời hạn kháng cáo

, nên không đượ c chấ p nhậ n để xem xé t theo trì nh tự phú c thẩ m . Mặ t khá c, xét thấy trong quá trì nh giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm anh Th không có yêu cầ u phản tố yêu cầu Tòa án giải quyết các yêu cầu này, nên có quyề n khở i kiệ n yêu cầ u Tò a á n giả i quyế t bằ ng vụ án dân sự khác.

[2] Xét nội dung kháng cáo của anh Hồ Xuân Th về việ c yêu cầ u chị H phải trả số tiền 5.600 USD mà anh Th đã bả o lã nh và bỏ ra cho chị H đi xuấ t khẩ u lao độ ng tạ i Đà i L oan. Hộ i đồ ng xé t xử nhậ n thấ y trong qu á trình giải quyết vụ án tại cấ p sơ thẩ m anh Th không có yêu cầ u phả n tố yêu cầ u Tò a á n giả i quyế t về việ c yêu cầ u chị H phải trả khoản tiền 5.600 USD nêu trên . Vì vậy, Tòa án cấp phúc thẩ m không có căn cứ để xem xét yêu cầu nêu trên của anh Thịnh, anh Th có quyền khở i kiệ n yêu cầ u Tò a á n giả i quyế t bằ ng vụ á n dân sự khá c.

[3] Xét yêu cầu kháng cáo về việc không chấp nhận chia quyền sử dụng diện tích đất 248 m2 của anh Th: Theo anh Th trình bày thì nguồn gốc diện tích đất 248 m2 đấ t tạ i thử a đấ t số 606 tờ bả n đồ số 6 thuộ c thôn Hưng Long Nam xã Đông Long là do bố mẹ anh Th cho riêng anh Th và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụ ng đấ t đứ ng riêng tên anh Th . Tuy nhiên, anh Th cũng thừa nhận năm 1996 khi anh Th và chị H còn quan hệ hôn nhân thì vợ chồng đã xây dựng nhà ở trê n diệ n tí ch đấ t nêu trên. Như vậ y, nế u quyề n sử dụ ng đấ t nêu trên là tài sản riêng mà anh Th đượ c bố mẹ cho riêng thì anh Thị nh cũ ng đã tự nguyệ n sá t nhậ p và o tà i sả n chung củ a vợ chồ ng, đã sử dụ ng chung từ năm 1996 đến khi ly hôn năm 2013. Mặ t khác, qua xác minh Ủy ban nhân dân xã Đông Long cung cấp cho biế t anh Hồ Xuân Th và chị Doãn Thị H có tài sản chung gồm: Diện tích đất ở là 267 m2 tại thửa đất số 606, tờ bản đồ số 6, đo đạc năm 1995, đã được Ủy ban nhân dân huyện Tiền Hải cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1060 ngày 08/4/1997; trong sổ địa chính có tên người đồng sử dụng là chị Doãn Thị H. Vì vậy, có đủ căn cứ xác định diện tích đất nêu trên là thuộc quyền sử dụng của anh Th và chị H.

[4] Xét thấy, qua xem xét thẩm định và định giá tài sản xác định: Hiện trạng thửa đất anh Th đang quản lý sử dụng có diện tích là 248 m2, có kích thước: phía Đông dài 14,97 m giáp đất ông Hồ Văn Thanh; phía Tây dài 13,17 m giáp đường trục thôn; phía Nam dài 16,82 m2 giáp mương thủy lợi; phía Bắc dài 18,38 m2 giáp đất ông Hồ Văn Thinh; diện tích đất 248 m2 trị giá 124.000.000 đồng. Các tài sản mà chị H và anh Th xây dựng trong thời kỳ hôn nhân trên diện tích đất nêu trên gồm: 01 ngôi nhà má i bằ ng mộ t tầ ng diệ n tí ch 47,65 m2 (xây dựng năm 1996) trị giá 20.569.000 đồng; 01 công trình phụ diện tích 15,75 m2 (xây dựng năm 1996 và trát lại năm 2015), phần xây dựng năm 1996 đã hết khấu hao nên không định giá; 01 nhà tắm diện tích 2,576 m2 và bể nước mưa (xây dựng năm 1996), đã hết khấu hao nên không định giá; 01 mái tôn diện tích 16,2 m2 (làm năm 2010), trị giá 1.215.000 đồng; 01 cổng bằng sắt hộp diện tích 29,56 m2 (làm năm 2010), trị giá 3.104.000 đồng; tường dậu kích thước dài 6,7 m, cao 1,3 m (xây dựng năm 2009), trị giá 245.000 đồng. Ngoài ra, trên diện tích đất còn có 01 nhà bếp và công trình phụ diện tích 34,04 m2 do anh Th xây dựng năm 2015.

[5] Do đó , việ c Tò a á n nhân dân huyện Tiền Hải đã xác định tài sản chung của chị H và anh Th trong thờ i kỳ hôn nhân gồm: ngôi nhà má i bằ ng mộ t tầ ng diệ n tích 47,65 m2; 01 mái tôn diện tích 16,2 m2; cổ ng bằng sắt hộp diện tích 29,56 m2 và tường bao (kích thước dài 6,7 m; cao 1,3 m) và quyền sử dụng diện tích đất 248 m2 tại thửa đất đất số 606, tờ bản đồ số 6 thuộ c thôn Hưng Long Nam xã Đông Long là tài sản chung của chị H và anh Th trong thời ký hôn nhân là có căn cứ và đú ng quy đị nh củ a phá p luậ t . Tổ ng trị giá tà i sả n chung củ a chị H và anh Th là 149.133.000 đồ ng.

[6] Xét thấy, việ c Tò a á n cấ p sơ thẩ m giao cho anh Th sở hữ u và sử dụ ng tà i sản chung, anh Th có trách nhiệm thanh toán chênh lệch tài sản cho chị H là cón căn cứ . Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm chia cho anh Th và chị H mỗ i ngườ i đượ c hưở ng ½ giá trị tà i sả n chung là chưa xem xé t đế n nguồ n gố c cũ ng như công sứ c đó ng gó p để tạ o lậ p nên khố i tà i sả n chung củ a cá c bên . Xét thấy, nguồ n gố c diệ n tích đấ t là do bố mẹ anh Th cho nên phả i xá c đị nh anh Th có công sức nhiều hơn . Do đó , Hộ i đồ ng phú c thẩ m nhậ n thấ y cầ n chấ p nhậ n mộ t phầ n yêu cầ u khá ng cá o của anh Th, sử a á n sơ thẩ m chia cho anh Th 2/3 phầ n giá trị quyền sử dụng đ ất và chia cho chị H 1/3 giá trị quyền sử dụng đất , còn các tài sản trên đất thì chia cho mỗ i ngườ i ½ giá trị là phù hợ p.

[7] Về á n phí : Chị H và anh Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo giá ngạch tương ứng với giá trị tài sản được chia . Do mộ t phầ n yêu cầ u khá ng cá o củ a anh Th đượ c Tò a á n chấ p nhậ n , nên anh Th không phả i chị u á n phí dân sự phú c thẩ m.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điề u 248, Điề u 293, khoản 2 Điề u 308, Điề u 309 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 27, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của anh Hồ Xuân Th (Hồ Văn Th). Sửa bản án sơ thẩm số 12/2018/CTSC-ST ngày 09/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình cụ thể như sau:

- Xử chia cho anh Hồ Xuân Th (Hồ Văn Th) sở hữu 01 ngôi nhà má i bằ ng mộ t tầ ng diệ n tí ch 47,65 m2; 01 mái tôn diện tích 16,2 m2; cổ ng bằng sắt hộp diện tích 29,56 m2 và tường bao (kích thước dài 6,7 m; cao 1,3 m) và sử dụng diện tích đấ t 248 m2 tại thửa đất đất số 606, tờ bản đồ số 6 thuộ c thôn Hưng Long Nam , xã Đông Long, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình có kích thước: phía Đông dài 14,97 m giáp đất ông Hồ Văn Thanh; phía Tây dài 13,17 m giáp đường trục thôn; phía Nam dài 16,82 m giáp mương thủy lợi; phía Bắc dài 18,38 m giáp đất ông Hồ Văn Thinh (Đã được UBND huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1060/QSDĐ ngày 08/4/1997 đứng tên Hồ Văn Th).

Tổng giá trị tài sản anh Hồ Xuân Th (Hồ Văn Th) được chia là 149.133.000 đồng (một trăm bốn mươi chín triệu một trăm ba mươi ba nghìn đồng).

- Xử buộc anh Hồ Xuân Th (Hồ Văn Th) có trách nhiệm phải thanh toán chênh lệch tài sản cho chị Doãn Thị H (Roãn Thị H) số tiền 52.000.000 đồng (năm mươi hai triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, chị H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Th không thanh toán số tiền trên, thì hàng tháng phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

2. Về án phí:

- Chị Doãn Thị H (Roãn Thị H) phải chịu 2.600.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 12.000.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0008449 ngày 17/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Trả lại chị Doãn Thị H (Roãn Thị H) số tiền đã nộp tạm ứng án phí là 9.400.000 đồng.

- Anh Hồ Xuân Th (Hồ Văn Th) phải nộp 4.850.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm và không phải nộp án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0008620 ngày 20/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Anh Hồ Xuân Th (Hồ Văn Th) còn phải nộp 4.550.000 đồng án phí dân sự.

3. Về chi phí định giá tài sản: Chị Doãn Thị H (Roãn Thị H) tự nguyện nộp cả 2.000.000 đồng tiền chi phí định giá tài sản (Chị H đã nộp xong).

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 14/8/2018.

Cỡ chữ