vanban.org

Bản án 19/2018/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ vào Điều26, 35, 39, 147, 271, 273 Bô ̣ luâ ̣t tố tụng dân sự năm2015;

Căn cứ vào Điều 479, Điều 305 Bộ luật dân sự 2005; Căn cứ vào Điều 688 Bộ luật dân sự 2015; Điều 17, Điều 30 Nghị định số : 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn giảm thu, nộp và sử dụng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Trương Thị Nga tranh chấp hợp đồng dân sự về việc góp họ với Trịnh Thị Đ"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ vào Điều26, 35, 39, 147, 271, 273 Bô ̣ luâ ̣t tố tụng dân sự năm2015;
  • Căn cứ chính? Điều 17 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 30 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường
TÒA ÁN NHÂ DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2018/DS-ST
Ngày: 10 - 9 - 2018
V/v “Tranh chấp hợp đồng dân sự
về việc góp họ”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Kiệt.

2. Ông Võ Hoàng Ân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lý Văn Toán – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang Bà Trần Thị Quỳnh Trâm- Chức vụ: Kiểm sát viên:

Ngày 10 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 43/2018/TLST-DS ngày 04 tháng 5 năm 2018 về việc "Tranh chấp hợp đồng dân sự về việc góp họ" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2018/QĐST-DS, ngày 20 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Trƣơng Thị Ng, sinh năm 1957. (Có mặt)

Địa chỉ: Số nhà 34, tổ 2, ấp Vĩnh Th, xã Vĩnh Hòa H, huyện Châu Th, tỉnh K.

* Bị đơn: Bà Trịnh Thị Đ, sinh năm 1980. (Có mặt)

Địa chỉ: Số nhà 165, tổ 17, ấp Vĩnh Th, xã Vĩnh Hòa H, huyện Châu Th, tỉnh K.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 07 tháng 8 năm 2017 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bà Trương Thị Ng trình bày:

Ngày 18-8-2016 âm lịch, tôi có mở dây hụi tuần, mỗi tuần xổ 01 lần vào ngày chủ nhật, có 36 người tham gia với tổng cộng là 52 chân hụi, hụi chết có số tiền là 200.000đ, hụi hoạt động theo hình thức ai bỏ hụi cao thì được hốt hụi, sau khi hốt hụi thì người đã hốt hụi phải đóng hụi chết cho chủ hụi đến khi mãn hụi. Ngày mãn của dây hụi này là ngày 20-7-2017 âm lịch. Bà Trịnh Thị Đ tham gia 02 chân. Ngày 09-9-2016 âm lịch, bà Đ bỏ hụi với số tiền là 60.000đ, hốt được số tiền hụi là 6.980.000đ; ngày 16-9-2016 âm lịch, bà Đ bỏ hụi với số tiền là 66.000đ, hốt được số tiền hụi là 6.680.000đ. Sau khi hốt hụi thì bà Đ đóng hụi chết cho tôi không thường xuyên, lúc đóng, lúc ngưng, tổng cộng thì bà Đ đóng cho tôi được 27 tuần hụi chết với số tiền 400.000đ/tuần; thiếu lại 25 tuần hụi chết, tôi làm đơn nhờ ấp Vĩnh Th giải quyết thì bà Đ đóng được số tiền hụi chết là 06 tuần (mỗi tuần 400.000đ), còn nợ lại số tiền hụi chết là 7.600.000đ (Bảy triệu sáu trăm ngàn đồng). Tiền hụi bà Đ đóng cho tôi không có làm giấy tờ gì.

Tại đơn khởi kiện bổ sung ngày 10-5-2018 được Tòa án thụ ly ngày 14-5-2018 bà Trương Thị Ng yêu cầu bà Trịnh Thị Đ phải trả cho bà Ng số tiền lãi của số tiền hụi còn nợ : 7.600.000đ với lại suất là 25.000đ/1tháng/1.000.000đ, thời gian tính từ ngày 28-8-2017 DL cho đến khi bà Đ thanh toán đủ số tiền nợ hụi.

Tại phiên hòa giải hôm nay bà Trương Thị Ng có yêu cầu : Yêu cầu Tòa án xem xét buộc bà Trịnh Thị Đ trả cho bà Ng số tiền hụi chết còn thiếu lại là 7.600.000 đồng và số tiền lãi theo quy định pháp luật kể từ ngày 28/8/2017 cho đến khi bà Đ thanh toán đủ số tiền nợ hụi.

* Bị đơn bà Trịnh Thị Đ trình bày: Tôi thừa nhận có tham gia dây hụi xổ ngày 18-8-2016 âm lịch do bà Trương Thị Ng làm chủ hụi như bà Ng đã trình bày. Tôi hốt chân hụi đầu tiên được số tiền 6.116.000đ (Sáu triệu một trăm mười sáu ngàn đồng) và hốt chân hụi thứ hai được số tiền 7.450.000đ (Bảy triệu bốn trăm năm mươi ngàn đồng), tôi không nhớ ngày, tháng tôi hốt hụi. Sau khi hốt hụi, tôi có đóng tiền hụi chết cho bà Ng được 09 tháng với số tiền 400.000đ/tuần rồi ngưng đóng hụi do khó khăn về kinh tế; tiếp đó, tôi có đóng tiền hụi chết cho bà Ng được 06 tuần với số tiền 400.000đ/tuần.

Tại phiên tòa hôm nay bà Trịnh Thị Đ có yêu cầu : Thừa nhận hiện nay còn nợ bà Ng số tiền hụi là 7.600.000đ, nhưng hiện nay hoàn cảnh gia đình khó khăn xin được trả dần mỗi tháng 500.000đ đến khi dứt số tiền nợ trên, không đồng ý trả số tiền theo yêu cầu của bà Ng, không đồng ý trả lãi.

* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: VÒ viÖc tu©n theo ph¸p luËt tè tông trong qu¸ tr×nh gi¶i quyÕt vô ¸n cña ThÈm ph¸n vµ Héi ®ång xÐt xö; ViÖc chÊp hµnh ph¸p luËt cña ng êi tham gia tè tông d©n sù, kÓ tõ khi thô lý vô ¸n cho ®Õn tr íc thêi ®iÓm Héi ®ång xÐt xö nghÞ ¸n: ®· thùc hiÖn ®óng theo quy ®Þnh cña ph¸p luËt tè tông d©n sù

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị Ng buộc bà Trịnh Thị Đ phải có nghĩa vụ thanh toán cho bà Trương Thị Ng số tiền hụi gốc 7.600.000đ và tiền lãi theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

- Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị Ng thực hiện quyền khởi kiện theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự là thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân nhân dân huyện Châu Th, tỉnh K.

- Về quan hệ pháp luật tranh chấp, nguyên đơn bà Trương Thị Ng khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Trịnh Thị Đ yêu cầu Tòa án xem xét buộc bà Trịnh Thị Đ trả cho bà Ng số tiền hụi chết còn thiếu lại là 7.600.000 đồng và số tiền lãi theo quy định pháp luật kể từ ngày 28/8/2017 cho đến khi bà Đ thanh toán đủ số tiền nợ hụi nên quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng dân sự về việc góp họ”. Do giao dịch dân sự này được xác lập vào ngày 18-8-2016 nên áp dụng các quy định tại Điệu 305, Điều 479 Bộ luật dân sử năm 2005 để giải quyết cho đương sự.

- Về nội dung vụ án: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trương Thị Ng cùng với bị đơn bà Trịnh Thị Đ đều thống nhất xác định:

Nguyên đơn bà Trương Thị Ng yêu cầu Tòa án xem xét buộc bà Trịnh Thị Đ trả cho bà Ng số tiền hụi chết còn thiếu lại là 7.600.000 đồng và số tiền lãi theo quy định pháp luật kể từ ngày 28/8/2017 cho đến khi bà Đ thanh toán đủ số tiền nợ hụi.

Bị đơn bà Trịnh Thị Đ trình bày: Thừa nhận hiện nay còn nợ bà Ng số tiền hụi là 7.600.000đ, nhưng hiện nay hoàn cảnh gia đình khó khăn xin được trả dần mỗi tháng 500.000đ đến khi dứt số tiền nợ trên, không đồng ý trả số tiền theo yêu cầu của bà Nga, không đồng ý trả lãi.

Hội đồng xét xử xét thấy: Giao dịch góp họ giữa nguyên đơn bà Trương Thị

Ng với bị đơn bà Trịnh Thị Đ là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2005, bị đơn bà Trịnh Thị Đ đã nhận được tài sản thì phải có nghĩa vụ trả nợ cho bà Ng. Nhưng bà Đ trình bày do hoàn cảnh khó khăn, làm ăn thất bại bà không có khả năng trả tiền cho bà Ng trong 01 lần nên bà xin trả dần số nợ 7.600.000 đồng, mỗi tháng là 500.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu trên của bà Đ là không có cơ sở chấp nhận vì như thế sẽ kéo dài thời gian trả nợ, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Mặt khác, tại phiên tòa nguyên đơn bà Ng cũng không đồng ý cho bà Đ trả dần số tiền trên.

Về lãi suất : Do phía bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, kéo dài thời gian trả nợ cho nguyên đơn, làm ảnh hưởng đến lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Vì vậy, cần xử buộc bị đơn có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền gốc là 7.600.000đ, cùng tiền lãi theo quy định tại Điều 305 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 17, Điểu 30 Nghị định 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2016 quy định về họ, hụi, biêu, phường là hoàn toàn phù hợp theo quy định pháp luật

Về số tiền tranh chấp: các đương sự thống nhất hiện nay bà Đ còn nợ bà Ng số tiền hụi gốc là 7.600.000đ.

Lãi suất được tính theo Quyết định số: 2868/QĐ-NHNN ngày 29-11-2010 của Thống Đốc Ngân Hàng Nhà nước Việt Nam lại cơbản là : 9%/ 1 năm = 0,75%/ 1 tháng.

Số tiền : (7.600.000 đồng x 0,75%/tháng ) x 12 tháng (từ ngày 28-8-2017 đến ngày 10-9-2018, nguyên đơn đồng ý tính tròn 12 tháng) = 684.000 đồng. Tổng số tiền gốc và lãi là 8.284.000 đồng.

Từ những cơ sở trên Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Ng xử buộc bà Trịnh Thị Đ phải có nghĩa vụ trả cho bà Nga số tiền gốc và lãi là 8.284.000 đồng ( Tám triệu hai trăm tám mươi bốn ngàn đồng) là hoàn toàn phù hợp, đúng theo quy định của pháp luật.

Việc bà Đ thanh toán số tiền nợ hụi nêu trên cho bà Ng như thế nào thì thuộc vào thẩm quyền giải quyết của Chi cục Thi hành án dân sự khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Xét ý kiến của kiểm sát viên: HĐXX xét thấy ý kiến phát biểu và đề nghị của kiểm sát viên là phù hợp theo quy định pháp luật nên ghi nhận.

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Điều 147 Bô ̣ luâ ̣t tố tụng dân sự năm 2015.

Số tiền tranh chấp : 8.284.000 đồng x 5% = 414.200 đồng.

Do yêu cầu bà Ng được chấp nhận nên buộc bà Đ phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm là 414.200 đồng. Bà Ng không phải chịu án phí;

Hoàn trả cho bà Trương Thị Ng số tiền 490.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo các biên lai thu tiền số 0003689 ngày 23 tháng 4 năm 2018 và biên lai thu tiền số 0003720 ngày 11 tháng 5 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Th.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Điều26, 35, 39, 147, 271, 273 Bô ̣ luâ ̣t tố tụng dân sự năm2015;

- Căn cứ vào Điều 479, Điều 305 Bộ luật dân sự 2005;

- Căn cứ vào Điều 688 Bộ luật dân sự 2015; Điều 17, Điều 30 Nghị định số : 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn giảm thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị Ng về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự về việc góp họ” đối với bị đơn bà Trịnh Thị Đ.

2- Buộc bị đơn Trịnh Thị Đ phải có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn bà Trương Thị Ng số tiền nợ hụi tổng cộng cả gốc và lãi là 8.284.000 đồng ( Tám triệu hai trăm tám mươi bốn ngàn đồng).

Kể từ ngày bả n án có hiê ̣u lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không trả số tiền nêu trên thì còn phải trả cho người được thi hành án khoản tiền lãi theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

3- Về án phí: Buộc bị đơn bà Trịnh Thị Đ phải nộp án phí dân sự sơ thẩm cụ thể như sau: 8.284.000 đồng x 5% = 414.200 đồng.

Hoàn trả cho bà Trương Thị Ng số tiền 490.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo các biên lai thu tiền số 0003689 ngày 23 tháng 4 năm 2018 và biên lai thu tiền số 0003720 ngày 11 tháng 5 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Th.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4- Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ