vanban.org

Bản án 19/2018/DS-ST — Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ vào khoản 12 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 144; Điều 147; Điều 157; Điều 165; Điều 220; điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228; Điều 244; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Các Điều 688; Điều 689; Điều 691; Điều 692; Điều 697 của Bộ luật dân sự năm 2005. Điều 127 Luâ ̣t đất đai năm 2003. Điều 160; Điều 165; Điều 166 của Bộ luật dân sự năm 2015. Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án số: 10/2009/UBTVQH12, ngày 27/02/2009 của UBTVQH quy định về án phí, lệ phí Tòa án. … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự — án dân sự — "Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án giữa bà Trần Thị Mỹ L và ông Trần Hải T, bà Nguyễn Thị Tuyết V"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ vào khoản 12 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 144; Điều 147; Điều 157; Điều 165; Điều 220; điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228; Điều 244; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. BUÔN MA THUỘT
TỈNH ĐĂK LĂK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2018/DS-ST
Ngày 10 - 4 - 2018
“V/v: Tranh chấp liên quan
đến tà i sản bi ̣ cưỡng chế để
thi hà nh á n”;

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐĂK LĂK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Đoàn.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hồ Tùng Mâ ̣n;

2. Bà Tống Thi ̣ Điê ̣p.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Văn Cảnh– Là Thư ký Tòa án nhân dân TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Cườ ng – Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 10 - 4 - 2018, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân TP. B xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 164/2016/TLST-DS ngày 13 tháng 4 năm 2016 về việc “Tranh chấp liên quan đến tà i sản bi ̣ cưỡng chế để thi hà nh á n”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2017/QĐXXST-DS ngày 26/7/2017, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chi ̣ Trần Thị Mỹ L, sinh năm 1980; Địa chỉ: xã E, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk, (Có mặt).

2. Bị đơn: Vợ chồng bà Nguyễn Thị Tuyết V, sinh năm 1956 và ông Trần Hải T, sinh năm 1957;

Cùng trú tại địa chỉ: xã E, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk, (Đều có mặt).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ngân hàng A; Địa chỉ: phường T, Quận B, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Văn T; Chứ c vu ̣: Giám đốc - Phòng giao dịch T- Ngân hàng A – Chi nhánh Đăk Lăk;

Địa chỉ: phường T, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk (Theo giấy ủy quyền số: 2218 ngà y 31/7/2017), (Có mặt).

3.2. Bà Pha ̣m Thi ̣ Minh D, sinh năm 1968; Đi ̣a chi: phưở

̀ ng T, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk, (Vắng mặt).

3.3. Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Đăk Lăk; Địa chỉ: Phường T1, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk.

Người đại diện theo phá p luật: Ông Vũ Tuấn A; Chứ c vu ̣: Chi cục trưở ng - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Đăk Lăk. (Vắng mặt, có đơn xin xé t xử vắng mặt).

3.4. Ông Y S, sinh năm 1953; Địa chỉ: xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

3.5. Bà H’J, sinh năm 1961;

3.6. Bà H’R, sinh năm 1965 (chồng là ông Y D đa chết năm 2010) .̃

Cùng trú tại địa chỉ: xã E, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk, (Đều vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

3.7. Anh Y T và bà H’ V; Cùng trú tại địa chỉ: xã S, huyện C, tỉnh Đăk Lăk. (Đều vắng mặt, có đơn xin vắ ng mặt).

3.8. vợ chồng anh Y M, sinh năm 1972 và bà H’T, sinh năm 1970; Cùng trú tại địa chỉ: xã E, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk. (Đều vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 17-02-2014, cũng như những lời khai tại Tòa án nhân dân TP. B, nguyên đơn chi ̣ Trần Thị Mỹ L trình bày:

Năm 2005, do cuộc sống hôn nhân của vợ chồng chi ̣ L có trục trặc mâu thuẫn dẫn đến việc chuẩn bị làm thủ tục xin ly hôn. Vì để chuẩn bị cho cuộc sống riêng của mình sau này, nên vào ngày 21/08/2005 chi ̣ L có nhận chuyển nhượng của ông Y D một thử a đất hình chữ L có diện tích là 1.180 m2 (chiều rộng ở phía mặt đường đi đầu chữ L có số đo là 5m, dài 66m và phía sau ngang 25m, dài 34m) tại xã E, thành phố B; thuô ̣c diê ̣n tich của thử a đất số 40 (thử a cũ là 22), theo

́

GCNQSDĐ số H 004635 do Sở đi ̣a chinh tỉnh Đăk Lăk cấp ngày 04/3/1997 cho hô ̣

́

ông Y P. Thử a đất liền kề vớ i thử a đất của cha mẹ chi ̣ L là (ông Trần Hải T và bà Nguyễn Thị Tuyết V). Nguồn gốc thử a đất này là do ông Y P chia cho con là ông Y D, nhưng hai bên chưa làm thủ tu ̣c tách thử a, trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ) còn mang tên ông Y P. Vì chi ̣ L không muốn cho chồng chị biết việc chuyển nhượng, nên khi nhận chuyển nhượng hai bên chỉ viết giấy tay mà không yêu cầu phía ông Y D làm thủ tục tách thử a, cấp GCNQSDĐ theo quy định của Luâ ̣t đất đai.

Do lô đất này nằm liền kề và ôm sát với thử a đất của vợ chồng ông T, bà V, nên hai bên không làm hàng rào, ranh giớ i ngăn cách, mà chi ̣ L nhờ vợ chồng ông T xây tườ ng rào bao quanh cùng chung vớ i thử a đất vợ chồng ông T.

Đến cuối năm 2010, Chi cục thi hành án dân sự thành phố B, đã ra 02 Quyết định thi hành án đối với bố mẹ của chị L. Sau đó tiếp tục ban hành quyết định kê biên tài sản của vợ chồng ông T và kê biên luôn phần diê ̣n tich thử a đất của chi ̣ L

́ nhâ ̣n chuyển nhượng của ông Y D.

Khi biết được sự việc, chi ̣ L đã có đơn khiếu nại, kèm theo các chứng cứ gửi đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố B, nhưng Chi cục thi hành án dân sự thành phố B, không giải quyết, mà yêu cầu bà L khởi kiện đến Tòa án và chi ̣ L đã có đơn khởi kiện. Tuy nhiên, do lần đầu chi ̣ L khởi kiện đối với bị đơn là Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, nên bản án sơ thẩm lần 1 đã bị hủy.

Về thẩm đi ̣nh và định giá: Chi ̣ L vớ i vợ chồng ông T yêu cầu vẫn giữ nguyên kết quả đo đạc ngày 19/03/2013 của trung tâm kỹ thuật địa chính, ngày 27/6/2017 của Tòa án và kết quả định giá ngày 27/06/2013 trong hồ sơ vụ án lần trước. Về chi phí thẩm định và định giá tài sản, chi ̣ L tự nguyện chi ̣u toàn bô ̣.

Vì vậy, chi ̣ L khởi kiện đề nghị Tòa án xem xét giải quyết, buộc vợ chồng ông T phải trả lại cho chi ̣ L thử a đất hình chữ L theo kết quả đo đạc ngày 19/03/2013 có diện tích là 980,7m2, tại xã E, thành phố B; Vi ̣ tri, ranh giớ i theo kết

́ quả đo đa ̣c, liền kề vớ i thử a đất của vợ chồng ông T.

* Bị đơn ông Trần Hải T trình bày: Năm 2005, vợ chồng ông T có nhận chuyển nhượng của ông Y P diện tích 1.320m2 thuô ̣c diê ̣n tich của thử a đất số 40

́ (thử a cũ là 22), theo GCNQSDĐ số H 004635 do Sở đi ̣a chinh tinh Đăk Lăk cẩ

́p

́ ngày 04/3/1997 cho hô ̣ ông Y P, tại địa chỉ: xã E, thành phố B. Hai bên đa lã ̀m thủ tu ̣c tách thử a thành thửa số 22A, tờ bản đồ số 15 và được cấp GCNQSDĐ số: AD 548323 do ủy ban nhân dân thành phố B, cấp ngày 01/11/2005 mang tên hộ bà Nguyễn Thị Tuyết V. Sau khi nhận chuyển nhượng vợ chồng ông T làm nhà ở trên mảnh đất này. Đồng thời, chi ̣ L, sau khi ly hôn với chồng, một mình nuôi hai con nhỏ. Do vậy, vợ chồng ông T nói chi ̣ L về sống cùng cha mẹ để có nơi nương tựa và đùm bọc nhau.

Vào ngày 21/08/2005 chi ̣ L có nhận chuyển nhượng của ông Y D một lô đất hình chữ L có tổng diện tích là 1.180 m2 (phía trước mặt đường ngang 5m, dài 66m và phía sau ngang 25m, dài 34m), ôm sát liền kề vớ i thử a đất của vợ chồng ông T. Nguồn gốc thử a đất này là do ông Y P chia cho con là ông Y D (nhưng trong GCNQSDĐ vẫn đang còn đứng tên hô ̣ ông Y P). Vì nhiều lý do nên chi ̣ L chỉ viết giấy tay và nhờ vợ chồng ông T xây tường rào bao bọc luôn, khi nào có điều kiện thì làm thủ tục đăng ký với cơ quan nhà nước theo quy định.

Năm 2007, do vợ chồng ông T có vay của Phòng giao dịch T thuộc Ngân hàng A- Chi nhánh tỉnh Đăk Lăk (viết tắt là Ngân hàng) 01 tỷ đồng để làm ăn. Tài sản thế chấp là số thửa: 22A, số tờ bản đồ 15, diện tích 1.320m2 tại xã E, thành phố B, GCNQSDĐ số: AD548323 Ủ y ban nhân dân thành phố B, cấp ngày 01/11/2005 mang tên hộ bà Nguyễn Thị Tuyết V. Do làm ăn bị thua lỗ, không có khả năng trả nợ cho Ngân hàng, nên Ngân hàng đã khởi kiện ra Tòa án, khi Quyết đi ̣nh có hiệu lực, Chi cu ̣c Thi hành án đã kê biên, cưỡng chế tài sản để thi hành án. Trong quá trình kê biên, Thi hành án đã kê biên luôn cả thử a đất liền kề của L.

Về Giấy sang nhượng đất thổ cư do anh Y M viết ghi ngày 20/6/2005, trướ c ngày ông Y D lâ ̣p giấy bán đất cho chi ̣ L (21/8/2005), nhưng chinh xác là giấy viết

́ vào năm 2010, nguyên nhân viết lùi la ̣i ngày là do khi đến ha ̣n trả nợ cho Ngân hàng nhưng vợ chồng ông T không có tiền trả, Ngân hàng giớ i thiê ̣u vợ chồng ông T mang tài sản nhà đất đến Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản - Sở tư pháp tỉnh Đăk Lăk, để bán giúp lấy tiền trả nợ cho Ngân hàng.

Sau khi Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản, đến xem đất thấy diê ̣n tich

́ đất sử du ̣ng bao chiếm nhiều hơn so vớ i GCNQSDĐ nên Trung tâm đấu giá nói vợ chồng ông T muốn bán được thử a đất, thi phải về làm giấy sang nhượng đất cho

̀

hợp thứ c hóa giấy tờ mua bán thử a đất diện tích chữ L của chi ̣ L và phải đứng tên bà V (trùng vớ i tên trong GCNQSDĐ) mới bán được. Vợ chồng ông T sang nhà ông Y P và con rể ông Y P (là anh Y M) đa viết giẫ

́y người nhận chuyển nhượng là bà V, giấy viết ghi ngày 20/6/2005. Về diện tích, tứ cận lô đất viết trong giấy không không trùng với giấy tờ gốc mua bán giữa ông Y D và chị L. Nhưng sau khi làm giấy xong cùng vớ i Trung tâm đấu giá mang hồ sơ sang Ngân hàng để Ngân hàng ký, nhưng Ngân hàng không chi ̣u ký vớ i lý do diê ̣n tich đất này không có

́ GCNQSDĐ và không phải là tài sản thế chấp trong hồ sơ vay vốn Ngân hàng.

Do vâ ̣y, Trung tâm đấu giá không nhâ ̣n bán tài sản cho vợ chồng ông T và trả hồ sơ la ̣i, nhưng khi nhâ ̣n hồ sơ về vợ chồng ông T không để ý lấy giấy Giấy sang nhượng đất thổ cư mà anh Y M đa viết ngã

̀y 20/6/2005. Do vâ ̣y, Giấy mua bán đất ngày 20/6/2005 Ngân hàng đang lưu giữ.

Về thẩm đi ̣nh và định giá: Bị đơn yêu cầu vẫn giữ nguyên kết quả đo đạc ngày 19/03/2013 của trung tâm kỹ thuật địa chính, ngày 27/6/2017 của Tòa án và kết quả định giá ngày 27/06/2013 trong hồ sơ vụ án lần trước. Về chi phí thẩm định và định giá tài sản, thi chi ̣ L tự nguyện chi ̣u toàn bô ̣.

̀

Nay chi ̣ L khởi kiện đề nghị Tòa án xem xét giải quyết, yêu cầu vợ chồng ông T trả lại thử a đất diện tích là 980,7m2 có hình chữ L cho chị L theo kết quả đo đạc ngày 19/03/2013 và ngày 27/6/2017 của Tòa án, tại xã E, thành phố B, liền kề ôm sát thử a đất của vợ chồng ông T, thi vợ chồng ông T đồng ý trả la ̣i cho chi ̣ L và

̀

để vợ chồng ông T có điều kiện đưa tài sản đã thế chấp ra bán đấu giá trả nợ Ngân hàng.

Về tài sản của vợ chồng ông T trên đất của chi ̣ L là mô ̣t phần diê ̣n tich nhà

́ xây 44,4m2, mô ̣t phần diê ̣n tich xây nhà kho 59,04m2, tườ ng rào xây dài 145,9m2

́ và mô ̣t số cây lâu năm, khi ông T, bà V xây và trồng cây đều có sự đồng ý của chi ̣ L. Tri ̣ giá theo biên bản thỏa thuâ ̣n ngày 20 tháng 7 năm 2017 là 250.000.000 đồng (Hai trăm lăm mươi triê ̣u đồng). Vợ chồng ông T đều đồng ý cho chi ̣ L toàn bô ̣ tài sản của vợ chồng ông T gắn liền vớ i đất của chi ̣ L và không yêu cầu chi ̣ L phải trả la ̣i tri ̣ giá tài sản này.

* Bi ̣ đơn bà Nguyễn Thị Tuyết V trình bày: Bà V thống nhất vớ i nô ̣i dung trinh bày của ông T. ̀

* Những ngườ i có quyền lợi, nghia vụ liên quan:

̃

- Đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng A - ông Nguyễn Văn T trình bày:

Ngày 08/06/2007 Ngân hàng cho vợ chồng bà V và ông T vay 01 tỷ đồng, thời hạn 36 tháng, lãi suất 15,6%/năm, hạn trả nợ cuối cùng là ngày 08/06/2010. Mục đích sử dụng vốn: Mua xe chở khách.

Tài sản thế chấp là: Đất và tài sản gắn liền vớ i đất, thửa đất số: 22A, tờ bản đồ số 15, diện tích: 1.320m2 theo GCNQSDĐ số: AD 548323 Uỷ ban nhân dân thành phố B, cấp ngày 01/11/2005 cho hô ̣ bà Nguyễn Thi ̣ Tuyết V. Giá trị tài sản thế chấp 1,6 tỷ đồng. Trong quá trình vay vốn, ông T, bà V đã vi phạm hợp đồng tín dụng, nên Ngân hàng đã kiện ra Tòa án thành phố B và đã được Tòa án giải quyết theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 28/2009/QĐST-DS ngày 06.03.2009 của Tòa án, buộc bà V và ông T phải trả cho Ngân hàng, số tiền: 1.256.880.000đồng tính đến ngày 26/2/2009. Trong đó: Gốc: 01 tỷ đồng, lai lã ̀ 256.880.000đồng; Tính đến ngày 12/8/2015 tiền lãi phát sinh là 594.518.889đồng, sau khi đã trừ số lãi trả được là 78.000.000đồng.

Từ đó đến nay, vợ chồng bà V và ông T vẫn chưa trả nợ. Nay chi ̣ L khởi kiê ̣n tranh chấp liên quan đến tài sản bi ̣ cưỡng chế để thi hành án, thi Ngân hàng đề

̀ nghi ̣ Tòa án giải quyết theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t, để Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp thu hồi nợ.

- Bà Phạm Thi ̣ Minh D trình bày: Theo Quyết đi ̣nh số 265/2007/QĐST-DS ngày 29/10/2007 của Tòa án nhân dân thành phố B (BL 151a), thi bà Nguyễn Thi ̣

̀ Tuyết V phải có nghia vu ̣̃

trả cho bà D 110.000.000 đồng, trả mô ̣t lần vào ngày 30/11/2007. Nhưng bà V không thực hiê ̣n nghia vu ̣̃

trả nợ, bà D đa lã ̀m đơn yêu cầu thi hành án để buô ̣c bà V phải trả.

Ngày 15/7/2008 Chi cục thi hành án dân sự thành phố B đa ra Quyết đi ̣̃

nh 2041/QĐ-THA đối vớ i bà V (BL 152), tài sản thi hành là nhà và đất ta ̣i xã E, thành phố B, trong quá trinh cưỡng chế kê biên thi hành cho khoản nợ của bà D và Ngân

̀ hàng thi chi ̣ L (là con đẻ bà V) có đơn khở i kiê ̣n vợ chồng ông T, bà V trả la ̣i cho

̀ chi ̣ L thử a đất hinh chữ L, có diê ̣n tich 1.180 m2, tại xã E, thành phố B, ôm sát liền

̀

́

kề thử a đất của ông T, bà V. Bà D yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.

* Đại diện Chi cục thi hành án dân sự thành phố B trình bày: Căn cứ hồ sơ thi hành án số 2041/QĐ/THA ngày 15/7/2008, số 1142/QĐ-THA ngày 01/4/2009 và số 301/QĐ/THA ngày 25/11/2009 của Trưởng thi hành án dân sự thành phố B (nay là Chi cục trưởng Chi cục Thi hành dân sự thành phố B) thì chấp hành viên Chi cục thi hành án dân sự thành phố B, đã tiến hành xác minh các tài sản của ông T, bà V, kết quả được UBND xã E cung cấp: ông T, bà V hiện đang quản lý sử dụng diện tích đất 2.275m2, trong đó 1.320m2 đất ông T, bà V đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần diện tích đất 955m2 (theo sang nhượng là 1.180m2, đo đạc thực tế 955m2) có nguồn gốc ông T, bà V sang nhượng lại của ông Y P nhưng chưa làm thủ tục sang tên (đất ông Y P đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).

Theo gia đình ông Y P cung cấp vào khoảng tháng 12/2005 gia đình ông có bán cho ông T, bà V một lô đất có hình chữ L với diện tích 1.180m2, hình thức mua bán chỉ viết giấy tay không qua xác nhận của chính quyền địa phương nhưng được sự đồng ý của các thành viên trong gia đình ông Y P. Phần diện tích này ông T, bà V đã gộp chung với phần diện tích đất ông T, bà V đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông T, bà V đã sử dụng ổn định và không có ai tranh chấp.

Theo biên bản kê biên tài sản lập ngày 14/9/2010 của Chi cục thi hành án thì toàn bộ diện tích đất ông T, bà V đang quản lý sử dụng đã được xây tường rào kiên cố bao quanh không có tranh chấp có diện tích 2.113m2 (diện tích đo đạc thực tế khi kê biên) bao gồm cả diện tích đất đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phần đất mua thêm của ông Y P chưa làm thủ tục sang tên .

Sau khi kê biên xét thấy phần đất ông T, bà V sang nhượng của ông Y P sau khi vợ ông Y P là bà H’B chết (chết năm 1992). Vì vậy, cần có ý kiến của các đồng thừa kế về việc sang nhượng một phần đất của ông Y P cho ông T, bà V, nên Chi cục thi hành án đã tiến hành làm việc với các đồng thừa kế của bà H’B và họ đều đồng ý với việc bố họ là ông Y P sang nhượng đất cho ông T, bà V mà không có thắc mắc khiếu nại gì.

Từ những căn cứ trên chấp hành viên Chi cục thi hành án đã kê biên toàn bộ diện tích đất và tài sản gắn liền trên đất của ông T, bà V là có cơ sở đúng quy định của pháp luật. Nay bà L khởi kiện cho rằng, phần diện tích đất 1.180m2 đất là của bà là không có căn cứ.

- Anh Y M trình bày: Tôi là con rể của ông Y P và là em của anh Y D (đa ̃ chết ngày 01/5/2010). Năm 2005, ông Y P có chia cho anh Y D một phần đất, sau đó gia đinh ho ̣p có đồng ý cho anh Y D sang nhượng cho vợ chồng ông T và bà V,

̀ phần diện tích là 1.320 m2 và chị L một phần diện tích là 5×66m. Hai phần diện tích này đều nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H 004635 cấp ngày 04/03/1997 đứng tên hô ̣ ông Y P. Ngoài ra anh Y D còn chuyển nhượng cho chị Trần Thị Mỹ L một phần diện tích phía sau cùng của lô đất có diện tích 25×34 mét chưa được cấp GCNQSDĐ. Phần diện tích đất 1.320m2 chuyển nhượng cho vợ chồng ông T gia đình ông Y P đã tách thửa và vợ chồng ông T đã được cấp GCNQSDĐ riêng.

Năm 2010, anh Y D chết. Đến năm 2009, bà V có qua nhà trình bày về việc gia đình bà vay tiền Ngân hàng đã đến hạn trả nợ nhưng không có khả năng trả nợ, nên phải phối hợp với Ngân hàng đem tài sản sang trung tâm đấu giá nhờ bán, nhưng trung tâm bán đấu giá tài sản không chấp nhận. Vì lý do: Một phần đất liền kề trong diện tích đất của gia đình bà V mang tên chị L, nên bà V có nhờ anh Y Mút viết giấy sang nhượng đất của chi ̣ L cho bà V để hợp thức hóa tên người có tài sản bán đấu giá.

Thời gian anh Y M viết giấy sang nhượng đất cho bà V là năm 2010 (sau khi anh Y D đã chết), nhưng về ngày, tháng, năm viết trong giấy thi phải ghi theo yêu

̀ cầu của trung tâm đấu giá thì là ghi vào thời điểm trước đó là năm 2005. Nay phát sinh tranh chấp, anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Chị H’T, bà H’R, bà H’J trình bày: Chi ̣ H’T là vợ anh Y M, bà H’R là vợ ông Y D (ông Y D đa chết năm 2010)̃

và là chi ̣ ruô ̣t của vợ anh Y M, bà H’J là chi ̣ gái vợ anh Y M. Chi ̣ H’T, bà H’R, bà H’J đều thống nhất vớ i nô ̣i dung trinh bày

̀ của anh Y M, viê ̣c chuyển nhượng đất của gia đinh vớ i vợ chồng ông T, bà V và

̀ chi ̣ L là hoàn toàn đúng và không có ý kiến gi.

̀

- Ông Y S trình bày: Ông Y S là con ruô ̣t ông Y P, vợ ông Y S là bà Ma L (đa chết năm 2015). Về nguỗ

̀n gốc thử a đất hình chữ L có tổng diện tích là 980,7m2 (chiều rộng ở phía mặt đường đi đầu chữ L có số đo là 5m, dài 89,3m và phía sau ngang 20,2m và dài 34m) ôm sát thử a đất của ông T, bà V tại xã E, thành phố B, vi ̣ tri ranh giớ i: Đông giáp đất ông Y P; Tây giáp đất ông Y N; Nam giáp

́ đất ông Y D’H; Bắc giáp đườ ng khu dân cư dài 08m là của ông Y P cho ông Y D.

Viê ̣c ông Y D chuyển nhượng thử a đất trên cho chi ̣ L và viê ̣c Chi cu ̣c Thi hành án kê biên để thi hành án như thế nào thi ông Y S không biết. Nay các bên

̀

tranh chấp thi ông Y S không có ý kiến gi, đề nghi ̣ Tòa án giải quyết theo quy đi ̣nh

̀

̀

của pháp luâ ̣t.

- Vợ chồng anh Y T và bà H’V trình bày: Anh Y T là con ruô ̣t ông Y P, vợ chồng anh Y T, bà H’V về thử a đất hình chữ L, vi ̣ tri ranh giớ i: Đông giáp đất ông

́ Y P; Tây giáp đất ông Y N; Nam giáp đất ông Y D’H; Bắc giáp đườ ng khu dân cư dài 08m là của ông Y P ôm sát thử a đất của ông T, bà V tại xã E, thành phố B, anh Y T, bà H’V không biết về nguồn gốc thử a đất này. Anh Y D là con rể ông Y P, viê ̣c ông Y P chia cho anh Y D thử a đất trên như thế nào thi vợ chồng anh Y T

̀ không biết và không có ý kiến, yêu cầu gi, đề nghi ̣ Tòa án giải quyết theo quy đi ̣nh

̀

của pháp luâ ̣t.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán cũng như tại phiên tòa Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật; thờ i ha ̣n giải quyết vu ̣ án còn vi pha ̣m thờ i ha ̣n chuẩn bi ̣ xét xử .

Về viê ̣c giải quyết vu ̣ án đề nghi ̣ HĐXX: Tuyên xử:

1. Đinh chỉ xét xử đối với một phần yêu cầu khởi kiện mà nguyên đơn chi ̣

̀ Trần Thị Mỹ L đã rút một phần diện tích là 199,3m2 đất nông nghiệp.

2. Công nhâ ̣n sự thỏa thuâ ̣n giữa bà Nguyễn Thị Tuyết V và ông Trần Hải T vớ i chi ̣ Trần Thị Mỹ L: Ông T, bà V trả la ̣i cho chi ̣ L thử a đất diện tích đất 980,7m2 và cho chi ̣ L toàn bô ̣ tài sản gắn liền vớ i đất, thuô ̣c diê ̣n tich của thử a đất

́ số 40 (thử a cũ là 22), theo GCNQSDĐ số H 004635 do Sở đi ̣a chinh tỉnh Đăk Lăk

́ cấp ngày 04/3/1997 cho hô ̣ ông Y P.

Diê ̣n tich đất có vị trí, ranh giới: Đông giáp thử a đất số 40 (thử a cũ là 22),

́ dài 89,3m; Tây gồm 02 ca ̣nh, ca ̣nh thứ nhất giáp thử a đất số 47 (thử a cũ là 22a) dài 63,8m, ca ̣nh thứ hai giáp thử a đất số 48 (thử a cũ là 27) dài 27,4m; Nam giáp thử a đất số 63 (thử a cũ là 26a) và 193 (thử a cũ là 23) dài 25,5m; Bắc gồm 02 ca ̣nh, ca ̣nh thứ nhất giáp giáp đườ ng hẻm dài 05m; mô ̣t ca ̣nh giáp thử a đất số 47, (thử a cũ là 22a) dài 20,2m.

Chi ̣ Trần Thị Mỹ L có quyền quản lý, sử du ̣ng thử a đất trên và có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nướ c có thẩm quyền làm thủ tục đăng ký, kê khai để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t về đất đai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

. Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tinh Đăk Lăk; ông Y S; bà H’J; bà H’R; vợ̉

chồng anh Y T và bà H’V; vợ chồng anh Y M và bà H’T đều có đơn xin xét xử vắng mặt; bà Pha ̣m Thi ̣ Minh D sau khi Tòa án ra quyết đi ̣nh xét xử đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 BLTTDS. HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung:

. Xét yêu cầu của nguyên đơn, về nguồn gốc lô đất 980,7m2 này là thuô ̣c diê ̣n tich của thử a đất số 40 (thử a cũ là 22) của ông Y P (đa chết ngã

̀y 25/10/2017)

́ chia cho con trai là ông Y D (đa chết ngã

̀y 01/5/2010) hai bên chưa làm thủ tu ̣c tách thử a, nên trong GCNQSDĐ vẫn đang còn mang tên hô ̣ ông Y P. Xét thấy lờ i khai của bi ̣ đơn là phù hợp vớ i lờ i khai của nguyên đơn và lờ i khai của những ngườ i có quyền lợi, nghia vu ̣̃

liên quan là: anh Y M, chi ̣ H’T, bà H’R, bà H’J đều thừ a nhâ ̣n diê ̣n tich đất nguyên đơn khở i kiê ̣n yêu cầu các bi ̣ đơn phải trả la ̣i thử a

́ đất 980,7m2 là của nguyên đơn nhâ ̣n chuyển nhượng của ông Y D vào ngày 21/8/2005. Hợp đồng chuyển nhượng hai bên viết giấy tay, thử a đất hình chữ L, (chiều rộng ở phía mặt đường đi đầu chữ L có số đo là 5m, dài 66m và thêm một khú c phía sau ngang 25m, dài 34m) tại xã E, thành phố B, vi ̣ tri ranh giớ i: Đông

́ giáp đất ông Y P; Tây giáp đất ông T, bà V; Nam giáp đất ông Y D’H; Bắc giáp đườ ng khu dân cư dài 08m (BL186). Vi ̣ tri ranh giớ i ghi trong hợp đồng này là phù

́

hợp vớ i hiê ̣n tra ̣ng thử a đất theo kết quả thẩm đi ̣nh đo đa ̣c, thử a đất này nằm liền kề và ôm sát với thử a đất số 22A của vợ chồng ông T (Đa cẫ ́p GCNQSDĐ), hai bên không làm hàng rào ngăn phân biê ̣t 02 thử a, mà chi ̣ L nhờ vợ chồng ông T, bà V xây tườ ng rào bao quanh chung vớ i thử a đất của vợ chồng ông T.

Về viê ̣c Giấy chuyển nhượng đất thổ cư viết tay (ghi ngày 20/6/2005) giữa vợ chồng anh Y M sang nhượng cho bà V (BL73), thi anh Y M và vợ chồng ông

̀ Tho ̣, bà V đều thừ a nhâ ̣n; vào năm 2010 sau khi ông Y D chết, bà V đa sang nhã

̀ nhờ anh Y M viết giấy sang nhượng (thử a đất của ông Y D đa chuyển nhượ̃

ng cho chi ̣ L), chuyển nhượng cho bà V để cho vợ chồng bà V để hợp thức hóa tên người có tài sản bán đấu giá, để trả nợ Ngân hàng, khi chưa có sự đồng ý của chi ̣ L. Về ngày, tháng, năm viết trong giấy thi phải ghi theo yêu cầu của trung tâm đấu giá thì

̀

là ghi vào thời điểm trướ c ngày ông Y D lâ ̣p giấy chuyển nhượng đất cho chi ̣ L (21/8/2005), để hợp thức hóa tên người có tài sản bán đấu giá. Giấy này là viết sau khi anh Y D chết.

Viê ̣c hai bên tranh chấp liên quan đến tài sản bi ̣ cưỡng chế để thi hành án là do ngày 08/9/2010 Chi cục thi hành án dân sự thành phố B đa ra Quyết đi ̣̃

nh kê biên tài sản số 106/QĐ-THA, tài sản kê biên là: Thửa đất số 22A, số tờ bản đồ 15, diện tích 1.320m2, tại xã E, thành phố B, GCNQSDĐ số: AD548323, cấp ngày 01/11/2005 cho hô ̣ bà V và mô ̣t phần diê ̣n tich thử a đất số 22, số tờ bản đồ 15, diện

́

tích 1.180m2, Chi cu ̣c Thi hành án cho rằng thử a đất này là của (ông T, bà V nhâ ̣n chuyển nhượng của ông Y P chưa làm thủ tu ̣c tách nhâ ̣p, đất đa cẫ ́p GCNQSDĐ số H 04635 ngày 04/3/1997 cho ông Y P (BL 295).

Theo hợp đồng chuyển nhượng đất ngày 28/7/2005 giữa ông Y P vớ i bà V, thi diê ̣n tich đất hai bên chuyển nhượng là 1.320m2 phù hợp diê ̣n tich của thử a đất ̀

́

́ 22A (BL 337) và bản đồ tách thử a (BL 349), nên không có chứ ng cứ chứng minh diê ̣n tich đất 980,7m2 là của ông T, bà V nhâ ̣n chuyển nhượng của ông Y P.

́

Về bản gốc Giấy sang nhượng đất thổ cư viết tay ngày 20/6/2005 giữa vợ chồng anh Y M sang nhương cho bà V, thi ta ̣i Tờ trinh ngày 28/12/2010 của Ngân

̀

̀ hàng thi Ngân hàng báo đa lã ̀m thất la ̣c mất (BL 281), nên Tòa án không thu thâ ̣p

̀ được.

. Ngày 04/4/2018 nguyên đơn rút mô ̣t phần yêu cầu khở i kiê ̣n, trướ c đây yêu cầu Tòa án giải quyết là 1.180m2, nay chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết buô ̣c ông T, bà V trả la ̣i cho chi ̣ thử a đất chi ̣ nhâ ̣n chuyển nhượng của ông Y D là 980,7m2. Xét việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện nên HĐXX căn cứ vào Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) cần chấp nhận và đinh chỉ xét xử phần yêu cầu nguyên đơn đa rũ ́t là 199,3m2 đất.

̀

. Đối với diê ̣n tich đất nguyên đơn và bi ̣ đơn thỏa thuâ ̣n: Qua xem xét thẩm

́ định đo đạc tại chỗ, thì thấy diện tích đất 980,7m2 nằm trong thửa đất số 40 (thử a cũ là 22) thi hiện nay bi ̣ đơn đang quản lý.

̀

Do vâ ̣y yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ , ta ̣i phiên tòa các bi ̣ đơn đều thừ a nhâ ̣n diê ̣n tich đất 980,7m2 trong thửa đất số 40 (thử a cũ là 22) là của nguyên

́ đơn và các bi ̣ đơn đều đồng ý trả la ̣i diê ̣n tich đất này cho nguyên đơn và cho

́

nguyên đơn toàn bô ̣ tài sản của bi ̣ đơn gắn liền vớ i đất, không yêu cầu nguyên đơn phải trả la ̣i tri ̣ giá những tài sản này.

. Căn cứ vào khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS), HĐXX khẳng định diê ̣n tich đất 980,7m2 thuô ̣c diê ̣n tich thửa đất số 40 (thử a cũ là

́

́ 22) theo GCNQSDĐ số H 004635 do Sở đi ̣a chinh tỉnh Đăk Lăk cấp ngày

́ 04/3/1997 cho hô ̣ ông Y P là của nguyên đơn nhâ ̣n chuyển nhượng của ông Y D vào ngày 21/8/2005 sau khi nhâ ̣n chuyển nhượng nguyên đơn không làm thủ tu ̣c tách thử a theo quy đi ̣nh của luâ ̣t đất đai. Xét viê ̣c thỏa thuâ ̣n giữa nguyên đơn và bi ̣ đơn là tự nguyện, nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội, vâ ̣y cần công nhâ ̣n sự thỏa thuâ ̣n giữa nguyên đơn và bi ̣ đơn.

. Về chi phi tố tu ̣ng và án phí:

́

Về chi phi tố tu ̣ng: Chi phí thẩm định và định giá tài sản, ta ̣i phiên tòa

́ nguyên đơn và bi ̣ đơn thỏa thuâ ̣n là nguyên đơn tự nguyện chi ̣u toàn bô ̣ chi phí; Căn cứ vào Điều 157; Điều 165 của BLTTDS, cần công nhâ ̣n sự thỏa thuâ ̣n của các đương sự về viê ̣c nguyên đơn chi ̣u toàn bô ̣ chi phi tố tu ̣ng.

́

Về án phi: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu

́ án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch mà HĐXX buộc phải trả, do vu ̣ án thu ̣ lý trướ c ngày 01/01/2017 nên mứ c án phi áp du ̣ng theo Pháp lê ̣nh về án phi, lê ̣ phi

́

́

́ Tóa án là 200.000đồng.

Trả la ̣i cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà nguyên đơn đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 12 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 144; Điều 147; Điều 157; Điều 165; Điều 220; điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228; Điều 244; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Các Điều 688; Điều 689; Điều 691; Điều 692; Điều 697 của Bộ luật dân sự năm 2005. Điều 127 Luâ ̣t đất đai năm 2003. Điều 160; Điều 165; Điều 166 của Bộ luật dân sự năm 2015. Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án số: 10/2009/UBTVQH12, ngày 27/02/2009 của UBTVQH quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Đinh chỉ xét xử đối với phần yêu cầu khởi kiện mà nguyên đơn chi ̣ Trần

̀ Thị Mỹ L đã rút một phần diện tích là 199,3m2 đất nông nghiệp.

2. Công nhâ ̣n sự thỏa thuâ ̣n giữa bà Nguyễn Thị Tuyết V và ông Trần Hải T vớ i chi ̣ Trần Thị Mỹ L: Ông T, bà V trả la ̣i cho chi ̣ L thử a đất diện tích đất 980,7m2 và cho chi ̣ L toàn bô ̣ tài sản gắn liền vớ i đất, thuô ̣c diê ̣n tich của thử a đất

́ số 40 (thử a cũ là 22), theo GCNQSDĐ số H 004635 do Sở đi ̣a chinh tỉnh Đăk Lăk

́ cấp ngày 04/3/1997 cho hô ̣ ông Y P.

Diê ̣n tich đất có vị trí, ranh giới: Đông giáp thử a đất số 40 (thử a cũ là 22),

́ dài 89,3m; Tây gồm 02 ca ̣nh, ca ̣nh thứ nhất giáp thử a đất số 47 (thử a cũ là 22a ) dài 63,8m, ca ̣nh thứ hai giáp thử a đất số 48 (thử a cũ là 27) dài 27,4m; Nam giáp thử a đất số 63 (thử a cũ là 26a) và thử a đất 193 (thử a cũ là 23) dài 25,5m; Bắc gồm 02 ca ̣nh, ca ̣nh thứ nhất giáp giáp đườ ng hẻm dài 05m; mô ̣t ca ̣nh giáp thử a đất số 47, (thử a cũ là 22a) dài 20,2m.

Ta ̣m giao cho chi ̣ Trần Thị Mỹ L quản lý, sử du ̣ng thử a đất trên và có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nướ c có thẩm quyền làm thủ tục đăng ký, kê khai để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t về đất đai.

3. Về chi phi tố tu ̣ng:

́

Chi ̣ Trần Thị Mỹ L chi ̣u 7.355.111đồng tiền chi phi thẩm đi ̣nh đo ve đẫ ́t và

́ 1.000.000đồng tiền chi phí thẩm định tài sản. Tổng cộng là 8.355.111đồng ( Tá m triệu, ba trăm năm mươi lăm nghìn một trăm mườ i một đồng) được khấu trừ vào tiền tạm ứng đã nộp tại Tòa án nhân dân thành phố B theo các phiếu thu số 118, ngày 26/10/2012; phiếu thu số 126, ngày 21/11/2012; phiếu thu số 63, ngày 19/6/2013; phiếu thu số 42, ngày 30/3/2017.

4. Về án phi:

́

Vợ chồng ông Trần Hải T và bà Nguyễn Thị Tuyết V phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm không có giá nghạch.

Trả lại cho chi ̣ Trần Thị Mỹ L số tiền là 3.500.000đồng (Ba triệu, năm trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà chi ̣ L đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B theo biên lai thu số: AA/2012/23907 ngày 20 tháng 3 năm 2014.

3. Thông báo quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mă ̣t ta ̣i phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ