vanban.org

Bản án 19/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Toàn B

Buộc bà Phan Thị H có trách nhiệm trả cho bà Đặng Toàn B số tiền vốn, lãi là 109.000.000 đồng (Một trăm lẽ chín triệu đồng). Về án phí dân sự sơ thẩm: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Toàn B
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN THOẠI SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 19/2018/DS-ST.
Ngày: 08/02/2018
V/v tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN - AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Triều Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Thường 2. Bà Diệp Thị Thu Nguyệt

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Cẩm Xuyên – Thư ký Toà án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn: Không tham gia phiên toà.

Ngày 08 tháng 02 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 195/2017/TLST-DS ngày 19/10/2017 về "Tranh chấp dân sự - Hợp đồng vay tài sản" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02A/2018/QĐXXST-DS ngày 02/01/2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Đặng Toàn B, sinh năm 1966

Địa chỉ: Số 224/2A, đường Trần Quang Diệu, phường Mỹ Xuyên, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Đặng Toàn B: Ông Huỳnh Thảo L, sinh năm 1982, địa chỉ số 119/2, tổ 11, đường Bùi Văn Danh, phường Mỹ Xuyên, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

(Văn bản ủy quyền ngày 03/8/2017).

2. Bị đơn: Bà Phan Thị H, sinh năm 1963, (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Sơn Tân , xã Vọng Đông, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Đặng Toàn B (do ông Huỳnh Thảo L - đại diện theo ủy quyền) trình bày:

Vào ngày 06/7//2016, bà Phan Thị H (là bạn của bà B) có hỏi vay của bà B số tiền 100.000.000 đồng để làm ăn, chi tiêu, sinh hoạt gia đình. Khi vay có làm biên nhận nợ và thỏa thuận lãi suất 1%/ tháng, thời hạn vay là 12 tháng. Sau khi vay, bà H có đóng lãi cho bà B từ ngày 03/8/2016 đến ngày 14/4/2017 với số tiền 7.800.000 đồng. Đến hạn trả nợ, bà H không trả vốn cũng như đóng lãi tiếp, mặc dù bà B nhiều lần đến nhà để yêu cầu trả nợ nhưng bà H né tránh không chịu trả.

Nay bà Đặng Toàn B yêu cầu bà Phan Thị H có trách nhiệm trả cho bà B số tiền vốn 100.000.000 đồng và lãi suất theo thỏa thuận.

Về phía bị đơn bà Phan Thị H: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng bà H vắng mặt và cũng không có văn bản nào thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của bà Đặng Toàn B.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bà Phan Thị H vắng mặt, Tòa án đã triệu tập hợp lệ hai lần. Do vậy, căn cứ vào khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bà H.

Về nội dung: Hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn bà Đặng Toàn B với bị đơn bà Phan Thị H thực tế có xảy ra nó được chứng minh bằng Biên nhận nợ. Tại Biên nhận nợ ngày 06/7/2016 có nội dung: “Tôi tên Phan Thị H, hiện ngụ tại ấp Sơn Tân, xã Vọng Đông, huyện Thoại Sơn, An Giang có nhận số tiền là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) về khoảng vay và trả hàng tháng với lãi suất 1%/tháng vào ngày 06 dương lịch hàng tháng cho cô Đặng Toàn B. Thời hạn vay 12 tháng kể từ ngày 06/7/2016”

Nhận thấy trong quá trình giải quyết vụ án, bà Phan Thị H đã nhận đầy đủ thông báo thụ lý, thông báo hòa giải của Tòa án nhưng không có văn bản nào thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn. Do vậy, căn cứ vào Biên nhận nợ ngày 06/7/2016 do bà H ký buộc bà H có trách nhiệm trả cho bà B số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).

Về lãi suất: Theo Biên nhận nợ ngày 06/7/2016, hai bên thỏa thuận lãi suất 1%/tháng; tại đơn khởi kiện nguyên đơn yêu cầu tính lãi suất trong hạn và lãi suất chậm trả theo quy định pháp luật. Tuy nhiên tại phiên tòa, nguyên đơn tự nguyện đồng ý tính lãi suất 1%/tháng cho đến khi kết thúc vụ kiện. Xét đây là sự tự nguyện của đương sự, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Theo nguyên đơn, sau khi vay bà H đã đóng lãi được 09 tháng rồi ngưng cho đến nay. Thời gian chưa đóng lãi từ ngày 14/5/2017 cho đến nay (ngày xét xử sơ thẩm) nguyên đơn đồng ý làm tròn 09 tháng. Lãi suất được tính như sau:

100.000.000 đ x 1% x 9 tháng = 9.000.000 đồng

Tổng cộng vốn, lãi: 109.000.000 đồng

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do bà H bị buộc trả nợ, nên phải chịu án phí 5% trên số tiền phải trả.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 177, Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH.14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Toàn B

- Buộc bà Phan Thị H có trách nhiệm trả cho bà Đặng Toàn B số tiền vốn, lãi là 109.000.000 đồng (Một trăm lẽ chín triệu đồng).

Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Bà Phan Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5.450.000 đồng (Năm triệu bốn trăm năm mươi ngàn đồng).

- Bà Đặng Toàn B không phải chịu án phí nên được hoàn lại số tiền là 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000613, ngày 18 tháng 10 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thi hành khoản tiền nêu trên, thì hàng tháng còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại trụ sở UBND xã, thị trấn nơi đương sự cư trú để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ