vanban.org

Bản án 19/2017/HSST — Hình sự

TAND TX. An Khê, tỉnh Gia Lai Tuyên án 11/07/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phan Thành H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Phan Thành H 05 (Năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị giam giữ 25/3/2017. Về dân sự: Công nhận sự tự nguyện của bị cáo Phan Thành H bồi thường thêm cho người bị hại Nguyễn Văn T với số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng).

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Thành H "Cố ý gây thương tích" ra đầu thú sau khi bị truy nã - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người kh…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Thành H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 104 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ AN KHÊ - TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2017/HSST
Ngày: 11/7/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN KHÊ - TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đồng Ánh Đông.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hồ Đắc Thắng - Phó Chủ tịch UBMTTQVN thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai.

2. Ông Nguyễn Bảo Huy - Chuyên viên Văn phòng HĐND-UBND thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Hường - Thư ký TAND thị xã An Khê.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Khê tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2017, tại Trụ sở TAND thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2017/HSST ngày 26/5/2017 đối với bị cáo:

Phan Thành H sinh ngày 21/7/1993 tại Gia Lai; trú tại: phường TS, thị xã AK, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; con ông Phan Văn H và bà Thái Thị Thanh M ; có vợ Lê Thị Thu N và 01 con; tiền sự: không, tiền án: có 01 tiền án (Ngày 13/3/2013, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xử phạt 02 năm tù về tộ i “Cố ý gây thương tí ch”, đến ngày 08/7/2014 chấ p hà nh xong); bị giam giữ từ ngày 25/3/2017 cho đến nay; có mặt.

* Người bị hại: Nguyễn Văn T sinh năm 1990; trú tại: thị trấn KC, huyện KC, tỉnh Gia Lai; có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Phan Văn H sinh năm 1971 và bà Thái Thị Thanh M sinh năm 1973; đều trú tại: phườ ng TS, thị xã AK, tỉnh Gia Lai; có mặt.

NHẬN THẤY:

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào khoảng 19 giờ ngà y 11/8/2015, Nguyễ n Văn T rủ Nguyễ n Văn C , Trầ n Văn T, Huỳnh Tấn V, Nguyễ n Minh T, Nguyễ n Văn T1 và Lương Ngọc T đến quán của ông Hà Thanh D (phườ ng TS, thị xã AK) để uống bia thì gặp Võ Đì nh Tr đang ăn uống cù ng Bù i Quố c T , Nguyễ n Đì nh D. Tại đây, Võ Đình Tr nói: “Mời anh gấu T mộ t ly”, Nguyễn Văn T nói: “Mà y đừ ng gọ i tao là gấ u T , tao ghé t gọ i gấ u T ”. Võ Đình Tr nói: “Không thích gọi gấu T thì em gọi anh T chứ làm gì mà nhăn dữ vậy”. Lúc này Võ Đình Tr nghĩ, Nguyễn Văn T nhìn lườm mì nh và nói bạ n đá nh nên Võ Đình Tr nói với Bùi Quốc T và Nguyễn Đình D: “Mấy thằng kia đòi đánh tao” . Nói xong Võ Đình Tr điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter BKS 81G1-119.xx về nhà (phườ ng TS) lấ y 01 cây xà beng bằng sắt (dài 1,225m, đườ ng kí nh 2,5cm, hình lục giác , mộ t đầ u mũi nhọn, mộ t đầ u mũi dẹ p ) đến đá nh Nguyễn Văn T. Bùi Quốc T mượ n điệ n thoạ i của Cao Sỹ P (không xá c đị nh số thuê bao) gọi điện rủ bị cáo Phan Thà nh H (số thuê bao 0967455xxx) đến đá nh nhau , Phan Thành H lái xe môtô loại Yamaha hiệu Jupiter BKS 81N2-14xx cầ m theo 01 con dao Thá i lan dà i khoả ng 20cm (cán nhựa màu vàng dài 10cm, lưỡ i bằ ng kim loạ i dà i 10cm, đầ u nhọ n ) đến quán ông Hà Thanh D.

Võ Đình Tr cầ m xà beng đến quá n, nói với Nguyễn Văn T: “Sao đò i đá nh tao”. Nguyễn Văn T nói: “Không có ”, Võ Đình Tr cầ m xà beng bằ ng hai tay dùng đầu nhọn chọt vào vùng ngực, vai T 2-3 cái, T giơ tay phả i lên đỡ thì trú ng vào mu bàn tay. Thấ y vậ y, Trầ n Văn T đến can ngăn thì bị Võ Đình Tr dùng xà beng đâm trú ng và o bắ p tay phả i 01 cái và bắp tay trái 01 cái nên Trần Văn T bỏ chạy. Võ Đình Tr tiếp tục đưa xà beng quay mũi dẹ p lên cao đá nh từ trên xuố ng vào vùng trán phải kéo dài xuống má của Nguyễn Văn T 01 cái. Lúc này, Bùi Quốc Th dùng tay đánh vào mặt Nguyễn Văn T 2-3 cái, T bỏ chạy được 2-3m thì bị ngã . Võ Đình Tr tiế p tụ c đuổi theo cầ m xà beng giơ lên cao đá nh từ trên xuống trúng vào đỉnh phải kéo dài đến vùng sau tai phải đầ u T 01 cái. Bị đánh T chồ m dậ y bỏ chạ y thì Phan Thà nh H đi xe mô tô đế n cầ m 01 dao Thá i lan dà i khoảng 20cm (cán nhựa màu vàng dài 10cm, lưỡ i bằ ng kim loạ i dà i 10cm, đầ u nhọn) đâm và o vù ng bụ ng T 02 nhát. Tiế p đó Võ Đình Tr dùng chân đá và o vùng ngực Thọ 02 cái thì Bùi Quốc Th nói: “Đừng đánh nữa, chứ Công an đế n”, nghe vậ y Tr và Phan Thành H dừ ng lạ i rồ i cả bọ n lên xe mô tô chạ y về hướ ng KC, Gia Lai.

Thấ y Nguyễn Văn T bị đánh, Nguyễ n Văn C nói Nguyễ n Văn T 1 lái xe mô tô BKS 81H7-51xx chở C về nhà lấ y 02 cái rựa và rủ Nguyễn Minh Th đi cùng. Khi đế n quá n ông D, C cầ m 01 cái rựa, Th cầ m 01 cái rựa tìm Võ Đình Tr đánh thì bị Công an thị xã AK giữ lạ i đưa về trụ sở là m việ c.

Nguyễ n Văn T bị thương, đượ c cấ p cứ u tạ i Bệ nh việ n Đa khoa khu vự c AK, sau đó chuyể n đến Bệ nh việ n Đa khoa tỉ nh Bì nh Đị nh điề u trị từ ngà y 12/8/2015 đến ngày 24/8/2015 xuấ t việ n. Ngày 26/8/2015, anh Nguyễn Văn T có đơn yêu cầ u khở i tố vụ á n.

Tại giấy chứng nhận thương tích số : 17/CN ngà y 31/8/2015 của Bệnh việ n Đa khoa khu vự c A K, xác định vết thương của Nguyễn Văn T như sau: Choáng do mấ t má u cấ p: Huyế t á p 80/50 mmHg; có 02 vế t thương vù ng thượ ng vị dài 03cm và 02cm; phúc mạc nối lớn ra ngoài + máu đang chảy ra; vết thương vùng trán phải dài # 17cm; vết thương vùng sau tai phải dài # 12cm; vết thương mu bà n tay phả i dà i # 4cm.

Tại giấy chứng nhận thương tích số : 498/CN ngà y 07/9/2015 của Bệnh việ n Đa khoa tỉ nh Bì nh Đị nh , xác định vết thương của Nguyễn Văn T như sau: Vế t thương ở đầ u đã khâu đang băng (Vế t thương dà i 12cm đi từ vùng đỉnh trán bên phả i chạ y dà i đế n gò má phả i . Vế t thương dà i 12cm từ vù ng sau đỉ nh phả i chạy dài xuống đến vùng sau tai phải , sâu đế n xương sọ ). Vế t thương mu bà n tay phả i dà i 4cm giữ a kẻ ngó n I , II. Vế t mổ đườ ng giữ a trên dướ i rố n rỉ í t dị ch , dẫ n lưu vù ng hạ sườ n phả i không ra dị ch . Bụng chướng (Hai vế t rá ch gầ n bờ mạc treo dài khoảng 2cm, 1cm). Thành bụng có hai vết đâm : 01 ở hạ sườn phải cách bờ sườn 8cm, 01 ở bờ sườn bên trái gần thượ ng vị .

Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số : 200/2015/PY-TgT ngày 17/9/2015 của Trung tâm pháp y tỉ nh Bì nh Đị nh kế t luậ n:

- Vết thương vùng đỉnh trán phải chạy dài đến gò má, hiện tại để lại sẹo kích thước (12 x 0,3)cm, sẹo lồi, xơ dính, ảnh hưởng thẩm mỹ. Tỷ lệ 15%.

- Vết thương đỉnh phải đến sau tai phải, hiện tại để lại sẹo kích thước (12 x 0,2)cm. Tỷ lệ 8%.

- Vết thương mu tay phải, hiện tại để lại sẹo kích thước (4 x 0,3)cm. Tỷ lệ 2%.

- Vết thương bờ sườn trái gây thủng dạ dày 02 lỗ, đã phẫu thuật khâu. Hiện tại dạ dày ổn định. Tỷ lệ 31%.

- Vết thương hạ sườn phải gây thủng ruột non đoạn hồi tràng 02 lỗ, đã phẫu thuật khâu. Hiện ruột ổn định. Tỷ lệ 31%.

Tổng tỷ lệ tổ n thương cơ thể do thương tí ch gây nên theo nguyên tắ c cộ ng lùi hiện tại là 64% (Sáu mươi bốn phần trăm).

Sau khi gây á n , Phan Thà nh H bỏ trốn khỏ i đị a phương , Cơ quan CSĐT Công an thị xã A K đã Quyết định khở i tố bị can và ra Quyế t đị nh truy nã , đồng thời Quyết định tách vụ án khi nào bắt được xử lý sau . Đế n ngà y 25/3/2017, Phan Thà nh H đầ u thú tại Công an thị xã AK.

Đối với Võ Đình Tr, Bùi Quốc T đã bị VKSND thị xã AK truy tố theo Cáo trạng số: 08/KSĐT-TA ngày 18/3/2016 và xé t xử tạ i Bản án h ình sự sơ thẩm số: 09/2016/HSST ngày 26/4/2016 của Tòa án nhân dân thị xã AK, đã xử lý về hình sự, dân sự, xử lý vật chứng nên Cáo trạng này không đề cập.

Theo Bản án hình sự sơ thẩm số: 09/2016/HSST ngày 26/4/2016 của Tòa án nhân dân thị xã AK, thì bị cáo Phan Thà nh H đã bồ i thườ ng mộ t phầ n thiệ t hạ i gây ra cho người bị hạ i số tiề n : 10.000.000đ và tuyên buộc các bị cáo Võ Đì nh Tr, Bùi Quốc T liên đới bồi thường cho bị hại với số tiền: 82.437.000đ, nên phần dân sự đã giải quyết xong.

Đối với 01 dao Thá i lan dà i khoả ng 20cm (cán nhựa màu vàng dài 10cm, lưỡ i bằ ng kim loạ i dà i 10cm, đầ u nhọ n) mà bị cáo đã gây thương tích cho anh T, Cơ quan CSĐT Công an thị xã AK tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được.

Tại bản cáo trạng số 18/CTr-VKS ngày 26/5/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã AK, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Phan Thành H về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 3 Điều 104 của BLHS.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã AK tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phan Thành H phạm tội “Cố ý gây thương tích”; đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 104; các điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 của BLHS; xử phạt bị cáo từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù. Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường thêm cho người bị hại số tiền 10.000.000đ. Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,

XÉT THẤY:

Tại phiên tòa bị cáo Phan Thành H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có tại hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở để kết luận:

Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngà y 11/8/2015 tại phườ ng TS, thị xã AK khi nghe Bùi Quốc T điện rủ đi đá nh nhau thì bị cáo Phan Thành H đồng ý. Bị cáo Phan Thành H cùng Võ Đình Tr và Bùi Quốc T đã dùng xà beng , dao gây thương tí ch cho anh Nguyễn Văn T với tổng tỷ lệ thương tậ t 64% (Sáu mươi bốn phần trăm). Do đó, hành vi của bị cáo Phan Thành H đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 3 Điều 104 của Bộ luật hình sự.

Đối với Võ Đình Tr và Bùi Quốc T cùng thực hiện hành vi phạm tội đã bị xét xử tại Bản án số 09/2016/HSST ngày 26/4/2016 của TAND thị xã AK.

Hành vi của bị cáo Phan Thành H là nguy hiểm cho xã hội không những xâm phạm đến sức khỏe của người khác mà còn làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã bỏ trốn gây khó khăn cho công tác điều tra.

Trong vụ án này bị cáo Phan Thành H tham gia với vai trò đồng phạm, thực hành tích cực và là người trực tiếp dùng dao đâm 02 nhát vào bụng của người bị hại, trong khi đó giữa người bị hại và bị cáo không có mâu thuẫn gì, bị cáo phạm tội khi chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 của BLHS nên cần phải áp dụng cho bị cáo một hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo đã ra đầu thú, đã tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại cho người bị hại là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46 của BLHS cần được xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, thấy cần áp dụng hình phạt tù cách ly ra ngoài đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đã được giải quyết tại bản án số 09/2016/HSST ngày 26/4/2016 của TAND thị xã AK, tỉnh Gia Lai. Tại phiên tòa, người bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm. Tuy nhiên, bị cáo Phan Thành H tự nguyện bồi thường thêm cho người bị hại Nguyễn Văn T số tiền 10.000.000đ. Xét việc tự nguyện bồi thường của bị cáo là đúng pháp luật nên công nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phan Thành H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2. Áp dụng khoản 3 Điều 104; Điều 33; các điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 586 và 590 của Bộ luật dân sự 2015.

- Xử phạt bị cáo Phan Thành H 05 (Năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị giam giữ 25/3/2017.

3. Về dân sự: Công nhận sự tự nguyện của bị cáo Phan Thành H bồi thường thêm cho người bị hại Nguyễn Văn T với số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người phải thi hành án không chịu thi hành khoản tiền trên, thì hàng tháng còn phải trả cho người được thi hành án tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả với mức lãi suất được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự, nếu không có thỏa thuận thì mức lãi suất thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 500.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (11/7/2017) bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ