- Tranh chấp gì? án dân sự — "Trần Thị L - Võ Văn H"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: 1. Đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L về việc buộc bà Nguyễn Thị H liên đới trả nợ cho bà Trần Thị L.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAKAR TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2017/DS-ST Ngày: 28/9/2017 V/v: Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAKAR, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán, chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Cương.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Hằng và bà Nguyễn Thị Tuyết.
Thư ký phiên tòa: Ông Y Kăn Niê – Thư ký Tòa án nhân dân huyện EaKar.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện EaKar tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Nguyệt - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 28/9/2017, Tòa án nhân dân huyện EaKar mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”, thụ lý số 170/2017/TLST-DS ngày 07/8/2017; Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2017/QĐST-DS ngày 14/9/2017, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị L, sinh năm 1973.
Địa chỉ: Thôn 14, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk - Có mặt.
* Bị đơn: Ông Võ Văn H, sinh năm 1984.
Địa chỉ: Thôn 8, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk - Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Đình L, sinh năm 1981.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Đình L: Bà Bà Trần Thị L.
Cùng địa chỉ: Thôn 14, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn bà Trần Thị L trình bày:
Tôi và vợ chồng ông H, bà H có quan hệ mua bán cám heo với nhau từ năm 2012. Tính đến ngày 24/01/2017 âm lịch, sau khi tính toán nợ thì ông H còn nợ của tôi số tiền 18.930.000 đồng. Tuy nhiên, kể từ ngày ký giấy xác nhận nợ đến nay ông H không trả nợ cho tôi được khoản nào, trong khi đó tôi phải chịu tiền lãi suất đối với Công ty cám mà tôi lấy cám heo bán lại cho các hộ dân. Tại đơn khởi kiện ngày 24/7/2017, tôi yêu cầu Tòa án buộc ông Võ Văn H, bà Nguyễn Thị H cùng có nghĩa vụ liên đới trả cho tôi số tiền nêu trên. Tuy nhiên, ngày 12/9/2017, tôi đã làm đơn xin rút một phần đơn khởi kiện về việc không yêu cầu bà H liên đới trả nợ cho tôi mà chỉ yêu cầu một mình ông Võ Văn H trả nợ.
Tôi đề nghị Tòa án xem xét giải quyết buộc ông Võ Văn H có nghĩa vụ trả cho tôi số tiền 18.930.000 đồng gốc và lãi suất theo quy định của pháp luật đến ngày xét xử sơ thẩm là 1.000.000 đồng.
* Tại biên bản ghi lời khai, quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn ông Võ Văn H trình bày:
Vợ chồng tôi với bà Trần Thị L có quan hệ mua bán cám heo với nhau từ năm 2012. Trong thời gian chăn nuôi heo thì tôi có mua cám heo nợ của bà Trần Thị L, ông Nguyễn Đình L và đến ngày 20/2/2013, tôi còn nợ bà L, ông L số tiền 18.930.000 đồng. Sau đó, do chưa trả nợ nên tôi có viết giấy hẹn đến ngày 24/02/2017 âm lịch vợ chồng tôi có nghĩa vụ trả đủ số tiền này. Nhưng do điều kiện kinh tế khó khăn, heo chết nhiều nên chưa trả được nợ cho ông L, bà L. Tôi xác định chữ ký tên trong giấy ngày 20/02/2013 âm lịch là do tôi ký tên Võ Văn H.
Khoảng tháng 3/2017 thì thôn có hòa giải và tôi cam kết tháng 6/2017 trả ½ số nợ và tháng 11/2017 sẽ trả ½ số nợ còn lại. Tuy nhiên, đến nay do tôi bị bệnh nên chưa trả được nợ cho bà L, ông .
Nay tôi có ý kiến sẽ trả nợ cho bà L, ông L số tiền 18.930.000 đồng làm 02 lần, cụ thể tháng 11/2017 trả ½ nợ và tháng 11/2018 trả ½ số nợ nêu trên. Về lãi suất bà L yêu cầu thì tôi không chấp nhận.
* Tại bản tự khai, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đình L trình bày:
Tôi thống nhất và đồng ý với ý kiến của vợ tôi bà Trần Thị L về việc khởi kiện yêu cầu ông H có nghĩa vụ trả cho vợ chồng tôi số tiền nợ còn lại là 18.930.000 đồng gốc và lãi suất là 1.000.000 đồng (tính lãi đến khi trả hết nợ). Tổng cộng là 19.930.000 đồng. Qúa trình giải quyết vụ án tôi có tham gia phiên họp xét công khai chứng cứ, phiên hòa giải nhưng tôi không có ý kiến mà đồng ý với ý kiến của vợ tôi. Hơn nữa, hiện nay tôi đã ủy quyền cho bà L tham gia tố tụng nên mọi ý kiến của bà L là ý kiến của tôi. Tôi không có ý kiến hay khiếu nại gì về việc giải quyết vụ án của Tòa án.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện EaKar đã ban hành hành thông báo thụ lý vụ án cho nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Triệu tập các đương sự ghi bản tự khai, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng các bên không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 203 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa, các đương sự giữ nguyên ý kiến và đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
* Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán đã ban hành các quyết định, việc cấp tống đạt các văn bản cho đương sự theo đúng quy định của pháp luật. Thành phần Hội đồng xét xử đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
* Về nội dung vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L về việc buộc bà Nguyễn Thị H liên đới trả nợ cho bà Trần Thị L.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L.
Buộc ông Võ Văn Hải có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị L, ông Nguyễn Đình L số tiền 19.814.977 đồng. Trong đó: tiền gốc 18.930.000 đồng và lãi suất 884.977 đồng.
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết về án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của của các đương sự, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Về tố tụng: Nguyên đơn bà Trần Thị L khởi kiện đối với ông Võ Văn H, các đương sự thường trú tại xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
. [2] Về nội dung:
Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự cùng xác nhận giữa vợ chồng bà L, ông L với ông H có quan hệ mua bán cám heo với nhau từ năm 2012, cụ thể ông H mua cám heo của vợ chồng bà L, ông L. Tính đến ngày 20/02/2013 âm lịch, sau khi tính toán tiền mua bán cám, ông H còn nợ của bà L, ông L số tiền 18.930.000 đồng. Ngày 24/01/2017 âm lịch ông H xác nhận còn nợ số tiền nêu trên của ông L, bà L và cam kết trả số tiền 18.930.000 đồng vào ngày 24/02/2017 âm lịch. Tuy nhiên, đến nay ông H xác nhận chưa trả cho bà L, ông L số tiền nêu trên. Vì vậy, việc bà Liễu khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông H có nghĩa vụ trả cho bà L, ông L số tiền 18.930.000 đồng là có căn cứ cần chấp nhận.
Xét yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L về việc buộc ông H phải trả tiền lãi suất với số tiền 1.000.000 đồng; Hội đồng xét xử xét thấy: ngày 24/01/2017 âm lịch ông H xác nhận còn nợ số tiền nêu trên của ông L, bà L và cam kết trả số tiền 18.930.000 đồng vào ngày 24/02/2017 âm lịch, không thỏa thuận lãi suất. Tại phiên tòa bà L cũng thừa nhận bà tự nguyện cho ông H trả số tiền 18.930.000 đồng vào ngày 24/02/2017 âm lịch nhưng ông H không trả. Vì vậy, cần xác định ngày ông H vi phạm nghĩa vụ trả nợ là hết ngày 24/02/2017 âm lịch (tức ngày 21/3/2017 dương lịch). Do đó, cần chấp nhận yêu cầu tính lãi suất của bà L, buộc ông H phải chịu lãi suất theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố mức 0,75%/tháng kể từ ngày ông H vi phạm nghĩa vụ trả nợ đến ngày xét xử sơ thẩm, cụ thể: 18.930.000 đồng x 0,75% x 6 tháng 07 ngày = 884.977 đồng.
Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L, buộc ông H có nghĩa vụ trả cho bà L, ông L số tiền nợ cám heo 18.930.000 đồng và lãi suất 884.977 đồng. Tổng cộng 19.814.977 đồng.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông H đề nghị được trả số tiền 18.930.000 đồng làm 02 lần, cụ thể: tháng 11/2017 trả ½ nợ và tháng 11/2018 trả ½ số nợ nêu trên. Tuy nhiên, ý kiến của ông H không được bà L chấp nhận. Nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét nguyện vọng của ông H.
Tại đơn khởi kiện bà L yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị H (vợ ông H) liên đới cùng ông Hải trả nợ. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án ngày 12/9/2017 bà L làm đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện không yêu cầu bà Hoa có nghĩa vụ liên đới cùng ông H trả nợ nên Hội đồng xét xử cần đình chỉ một phần vụ án dân sự đối với yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L về việc buộc bà Nguyễn Thị H liên đới trả nợ cho bà Trần Thị L.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Võ Văn H phải chịu 990.748 đồng án phí dân sự sơ thẩm (theo mức 19.814.977 đồng x 5% = 990.748 đồng)
Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên bà Trần Thị L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả cho bà L số tiền 498.250 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai số AA/2016/0002947 ngày 31/7/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện EaKar tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 203; Điều 266 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng Điều 357, 430, 440, Bộ luật dân sự năm 2015.
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: 1. Đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L về việc buộc bà Nguyễn Thị H liên đới trả nợ cho bà Trần Thị L.
- Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Trần Thị L.
Buộc ông Võ Văn Hải có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị L và ông Nguyễn Đình L số tiền tiền 19.814.977 đồng (Mười chín triệu tám trăm mười bốn nghìn chín trăm bảy mươi bảy đồng). Trong đó: tiền gốc 18.930.000 đồng và lãi suất 884.977 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bà L và ông L có đơn yêu cầu Thi hành án, nếu chưa thi hành án thì ông Võ Văn H còn phải chịu thêm khoản tiền lãi suất theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự trên số tiền phải thi hành án tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc Võ Văn H phải chịu 990.748 đồng (Chín trăm chín mươi nghìn bảy trăm bốn mươi tám đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho bà Trần Thị L số tiền 498.250 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai số AA/2016/0002947 ngày 31/7/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự.”/
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện EaKar; - Chi cục THADS huyện EaKar; - Các đương sự; - Lưu HS, VP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đình Cương |