- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1896/2022/HNGĐ-ST Ngày: 21-12-2022 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Tuyết Mai.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Võ Thị Mai.
Ông Nguyễn Văn Soan.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khánh, Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Huyền – Kiểm sát viên
Ngày 21 tháng 12 năm 2022 tại truï sôû của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 996/2022/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 6 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 460/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 405/2022/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm 1989; địa chỉ: Đường A, Phường B, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Bị đơn: Ông Bùi Trần H, sinh năm 1991; địa chỉ: Đường D, Phường E, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 15 tháng 6 năm 2022 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Lê Thị T trình bày như sau:
Về hôn nhân: Bà và ông Bùi Trần H tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số: 68/2013, quyển số: 01/2013 của Ủy ban nhân dân Phường F, quận G, TP. H cấp ngày 10 tháng 9 năm 2013. Trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nhiều mâu thuẫn, đỉnh điểm là ông H đánh bà trước mặt các con, mặc dù đã nói chuyện nhiều lần nhưng không giải quyết được khiến cho mâu thuẫn thêm trầm trọng. Hiện nay vợ chồng đã ly thân, mạnh ai nấy sống không ai quan tâm đến ai. Nay bà nhận thấy giữa hai bên không còn tình cảm, không có khả năng hàn gắn nên bà xin ly hôn ông Bùi Trần H để ổn định cuộc sống. Về con chung: Bà T xác nhận cả hai có 02 con chung tên là Bùi Gia H, sinh ngày: 31/5/2015 và Bùi Lê Linh C sinh ngày: 27/9/2018. Bà yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung cho đến khi các trẻ Gia H, Linh C lần lượt đủ 18 tuổi và không yêu cầu ông Bùi Trần H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung: Bà xác nhận cả hai không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bị đơn là ông Bùi Trần H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa sơ thẩm: Nguyên đơn là bà Lê Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn là ông Bùi Trần H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tự khai, tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng ông H đều vắng mặt không có lý do. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng; bị đơn không thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cụ thể: Bà Lê Thị T được ly hôn với ông Bùi Trần H; về con chung: Giao 02 con chung tên Bùi Gia H, sinh ngày: 31/5/2015 và Bùi Lê Linh C sinh ngày: 27/9/2018 cho bà Lê Thị T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, bà T không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con nên không xét; về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên không xét. Án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 68/2013, quyển số: 01/2013 của Ủy ban nhân dân Phường F, quận G, TP. H cấp ngày 10 tháng 9 năm 2013 thì quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Thị T và ông Bùi Trần H là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được Luật Hôn nhân và Gia đình điều chỉnh.
Căn cứ đơn khởi kiện của bà Lê Thị T thì đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Tại thời điểm nộp đơn khởi kiện, bị đơn là ông Bùi Trần H thực tế cư trú tại quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh nên tranh chấp trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Gò Vấp theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về thủ tục tố tụng:
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn là bà Lê Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn là ông Bùi Trần H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Lê Thị T và ông Bùi Trần H theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân:
Bà Lê Thị T và ông Bùi Trần H tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn vào ngày 10 tháng 9 năm 2019 tại Ủy ban nhân dân Phường F, quận G, TP. H nên quan hệ hôn nhân giữa Lê Thị T và ông Bùi Trần H là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, ông bà sống hạnh phúc được một khoảng thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do đó bà T yêu cầu ly hôn.
Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ chung sống với nhau, yêu thương, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Tuy nhiên, do mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn nên hiện nay bà T và ông H đã sống ly thân. Bà T không còn tình cảm vợ chồng với ông H. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ đối với ông Bùi Trần H đến Tòa án để tự khai, tham gia phiên họp về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông H đều vắng mặt không có lý do, cũng như không nộp cho Tòa án ý kiến hay yêu cầu của mình về việc giải quyết vụ án. Điều này thể hiện ông H hoàn toàn không quan tâm đến yêu cầu ly hôn của bà T và cũng không đưa ra được biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng, không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị T là có căn cứ để chấp nhận theo quy định tại các Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung:
Căn cứ lời khai của bà Lê Thị T xác định được: Cả hai có 02 con chung tên Bùi Gia H sinh ngày: 31/5/2015 và Bùi Lê Linh C, sinh ngày: 27/9/2018. Bà yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung cho đến khi các trẻ Gia H, Linh C lần lượt đủ 18 tuổi. Theo lời khai của bà T, thì bà là trụ cột kinh tế chính trong gia đình, các con từ nhỏ đến nay đều do một mình bà chăm sóc, nuôi dưỡng. Tại bản trình bày nguyện vọng ngày 30/8/2022, trẻ Gia H có nguyện vọng được ở với bà T. Mặt khác, cả 02 trẻ Gia Hn và Linh C đều là bé gái, đang trong giai đoạn cần được người mẹ chăm sóc. Nhằm tạo điều kiện cho các trẻ được ổn định, không bị xáo trộn về mặt tâm lý cũng như trong cuộc sống và căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của trẻ, Hội đồng xét xử giao 02 trẻ Bùi Gia H, sinh ngày : 31/5/2015 và Bùi Lê Linh C sinh ngày 27/9/2018 cho bà Lê Thị T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Xét về nghĩa vụ cấp dưỡng: Bà Lê Thị T không yêu cầu ông Bùi Trần H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. [3.3] Về tài sản chung: Bà Lê Thị T khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. [3.4] Về nợ chung: Bà Lê Thị T khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. [4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp về việc giải quyết vụ án về quan hệ hôn nhân, về con chung, về tài sản chung và nợ chung là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận. [5] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì bà Lê Thị T phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về hôn nhân và gia đình được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà Lê Thị T đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2021/0048751 ngày 29/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Lê Thị T đã nộp đủ án phí. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 và khoản 3 Điều 228; Điều 273; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Các điều 51, 55, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị T được ly hôn với ông Bùi Trần H.
(Giấy chứng nhận kết hôn số: 68/2013, quyển số: 01/2013 của Ủy ban nhân dân Phường F, quận G, TP. H cấp ngày 10 tháng 9 năm 2013 hết hiệu lực).
- Về con chung: Bà Lê Thị T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Bùi Gia H, sinh ngày: 31/5/2015 và Bùi Lê Linh C, sinh ngày: 27/9/2018 cho đến khi các trẻ Gia H, Linh C lần lượt đủ 18 tuổi. Ông Bùi Trần H không cấp dưỡng nuôi 02 con chung do bà Lê Thị T không yêu cầu.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi có yêu cầu của cha, mẹ; người thân thích, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, hội liên hiệp phụ nữ, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về tài sản chung: Bà Lê Thị T khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về nợ chung: Bà Lê Thị T khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
2. Án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về hôn nhân và gia đình là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng, bà Lê Thị T phải chịu, được trừ vào 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí mà bà Lê Thị T đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2021/0048751 ngày 29/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Lê Thị T đã nộp đủ án phí.
Bà Lê Thị T và ông Bùi Trần H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND quận Gò Vấp; - Chi cục THADS quận Gò Vấp; - UBND Phường F, quận G, TP. H; - Các đương sự; - Lưu: VP, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Tuyết Mai |