vanban.org

Bản án 189/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đ a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N. Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị N được ly hôn ông Nguyễn Văn N1. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Đ a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 189/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 26-8-2026
V/v ly hôn Nới – Nhân

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ngọc Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Nguyệt Nga

Bà Hồ Thị Kim Phương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 12, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Cao Đăng Khoa – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2026, tại Tòa án nhân dân Khu vưc 12 xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 267/2026/TLST - HNGĐ ngày 08/6/2026 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 211/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 21 tháng 7 năm 2026 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1987.

Nơi cư trú: ấp H, xã H, tỉnh Vĩnh Long.

Số căn cước: xxxxxxxxxxxx

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1982.

Trú tại: ấp B, xã B, tỉnh An Giang.

Số căn cước xxxxxxxxxxxx.

(bà N có đơn xin vắng mặt, ông N1 vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 01/6/2026 nguyên đơn bà Nguyễn Thị N trình bày:

Bà N, ông N1 sau thời gian tìm hiểu rồi thành vợ chồng, được sự đồng ý của gia đình hai bên nên tổ chức lễ cưới năm 2016, ngày 24/12/2016 bà N, ông N1 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện V, tỉnh Vĩnh Long(nay là xã H, tỉnh Vĩnh Long) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 74, ngày 24 tháng 12 năm 2016. Sau khi kết hôn vợ chồng lên Bình Dương tìm việc làm, thời gian đầu chung sống hạnh phúc đến năm 2020 phát sinh mâu thuẫn, do bà N bị tai nạn giao thông cần chi phí điều trị lên đến 300.000.000đồng, phía ông N1 và gia đình chồng đưa bà N về nhà cha mẹ ruột ở Vĩnh Long để lo chi phí điều trị, từ đó không tới lui thăm hỏi hay có ý hàn gắn tình cảm vợ chồng, nay tình cảm không còn yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn N1

Con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Thị Như Ý, sinh ngày 01/08/2020, con chung hiện đang sống chung với bà N, khi ly hôn bà N yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu ông N1 cấp dưỡng cho con

Về tài sản chung, nợ chung: không có.

Ngày 01/06/2026 bà Nguyễn Thị N yêu cầu Toà án không tiến hành hoà giải và có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn ông Nguyễn Văn N1 vắng mặt, không có ý kiến trình bày.

Tài liệu do Toà án thu thập được: Đại diện ban ấp B, xã B cho biết ông Nguyễn Văn N1 sinh năm 1982 có đăng ký hộ khẩu B, xã B, huyện P, tỉnh An Giang(nay là xã B, tỉnh An Giang), tuy nhiên hiện nay ông N1 không có mặt tại địa phương đi đâu làm gì thì địa phương không rõ, về tình trạng hôn nhân giữa bà N và ông N1 như thế nào thì địa phương không biết.

Tại phiên tòa, kiểm sát viên phát biểu về quá trình tiến hành tố tụng và đề xuất như sau:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm, bảo đảm các trình tự, thủ tục và quyền tranh tụng tại phiên tòa. Nguyên đơn bà N đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn ông Nguyễn Văn N1 đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án là chưa thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự, ông N1 vắng mặt không lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông N1 là phù hợp với quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị N đối với ông Nguyễn Văn N1. Khi ly hôn bà N yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu ông N1 cấp dưỡng cho con, ông N1 vắng mặt không ý kiến về con chung nên không xem xét giải quyết

- Về án phí: bà Nguyễn Thị N phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: bà N yêu cầu ly hôn, giải quyết con chung với ông N1 nên xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn có nơi cư trú tại ấp B, xã B, tỉnh An Giang nên thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân Khu vực 12 theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn bà N có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông N1 được tống đạt hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2.] Về nội dung giải quyết vụ án:

[2.1 Về hôn nhân: bà N và ông N1 tự nguyện đi đến hôn nhân năm 2016 và có đăng ký kết hôn năm 2016 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện V, tỉnh Vĩnh Long(nay là xã H, tỉnh Vĩnh Long) ngày 24/12/2016 là hôn nhân hợp pháp nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng. Ông N1, bà N chung sống vợ chồng nhưng thường xuyên cải nhau ngay tại thời điểm bà N bị tai nạn giao thông cần thời gian điều trị và người chăm sóc thì ông N1 và gia đình lại không quan tâm, bỏ mặc cho cha mẹ ruột bà N chăm sóc từ năm 2020 đến nay, vợ chồng ly thân từ đó, trong thời gian ly thân không ai qua lại, điện thoại hay có ý hàn gắn tình cảm vợ chồng, nay bà N xin ly hôn với ông N1.

Theo quy định tại Điều 19, Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình; Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau….”. Thế nhưng vợ chồng ông N1, bà N không còn chung sống khoảng hơn 06 năm nay là khoảng thời gian dài. Điều này chứng tỏ vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cũng như không thể chia sẻ công việc trong gia đình với nhau được nữa, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử thống nhất cho bà Nguyễn Thị N được ly hôn ông Nguyễn Văn N1.

[2.2] Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Thị Như Ý, sinh ngày 01/8/2020, con chung đang sống chung với bà N, khi ly hôn bà N yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu ông N1 cấp dưỡng cho con, tại bản tự khai ngày 02/12/2025 con chung Như Ý đều có nguyện vọng được tiếp tục sống chung bà N. Ông N1 vắng mặt không ý kiến về con chung, vì thế HĐXX không xem xét giải quyết.

[2.3] bà N trình bày tài sản chung, nợ chung không có nên không xem xét giải quyết.

[2.4] Về án phí: bà Nguyễn Thị N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227, Điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 19, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;

Đ a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N.

Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị N được ly hôn ông Nguyễn Văn N1.

Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thị Như Ý, sinh ngày 01/08/2020, cho bà N được tiếp tục nuôi dưỡng. Con chung đang sống chung bà N, ông N1 không phải cấp dưỡng cho con.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, cơ quan tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về tài sản chung không yêu cầu giải quyết, nợ chung không có.

Về án phí: bà Nguyễn Thị N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0001966 ngày 08/6/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Bà Nguyễn Thị N không phải nộp thêm án phí.

Ông Nguyễn Văn N1 không phải chịu án phí.

Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Ông N1, bà N, vắng mặt thời hạn kháng cáo bản án là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ