- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân N - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân N, bị cáo Nguyễn Như N phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 189/2024/HSST Ngày: 18/12/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quản Việt Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Mạnh Khang
Bà Lương Thị Nga
-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Linh – Thư ký TAND huyện Hoài
Đức, thành phố Hà Nội.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lưu Thế Tài - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 196/2024/HSST ngày 25/11/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 188/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Xuân N; sinh năm 1994; Tên gọi khác: Không; Giới tính : Nam; HKTT và chỗ ở: thôn Gạch, xã Sơn Đồng, huyện Hoài Đức, TP Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Nguyễn Xuân Tường, sinh năm 1967; Con bà: Nguyễn Thị Tuyết Minh, sinh năm 1968; Gia đình có hai anh em, bị cáo là con út; Vợ con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: 02 tiền án, 01 tiền sự (đã xóa): Ngày 17/08/2012 bị TAND huyện Từ Liêm xử phạt 36 tháng tù giam về tội cướp giật tài sản. Ngày 08/2/2015 ra trại. (Đã nộp án phí); Ngày 15/09/2016 bị TAND huyện Hoài Đức xử 06 năm tù giam. Ngày 16/2/2021 ra trại. Đã nộp án phí (đã xóa); Ngày 01/10/2015, bị Công an quận Nam Từ Liêm xử phạt hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, số tiền là 1.500.000 đồng(đã nộp phạt). Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/5/2024, đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giạm tại Trại tạm giam số 01- TP Hà Nội. (Có mặt)
2. Nguyễn Như N, sinh năm 1990; Tên gọi khác: Không; Giới tính : Nam; HKTT và chỗ ở: thôn Thượng, xã Sơn Đồng, huyện Hoài Đức, TP Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Nguyễn Như Ngọc, sinh năm 1967; Con bà: Hoàng Thị Xuân, sinh năm 1969; Gia đình có ba anh em, bị cáo là con đầu; Vợ: Nguyễn Thị Trang, sinh năm 1990 (Đã ly hôn năm 2021); Bị cáo có 02 con sinh năm 2010 và sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: 02 tiền sự (đã xóa): Năm 2012, đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm cai nghiện số 06, thời gian 24 tháng.(đã hết thời hiệu); Năm 2019, bị Công an huyện Đan Phượng xử phạt hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy số tiền 1.500.000 đồng.(đã nộp phạt).
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/7/2024, đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giạm tại Trại tạm giam số 01- TP Hà Nội. (Có mặt)
* Người bị hại:
Cháu Nguyễn Lê Bảo Ngân, sinh ngày 14/3/2009; ĐKNKTT: xóm 5, thôn Kim Hoàng, xã Vân Canh, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt).
Người Giám hộ cho cháu Ngân: Ông Nguyễn Như Hoan, sinh năm 1980; ĐKNKTT: xóm 5, thôn Kim Hoàng, xã Vân Canh, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu Ngân:
Bà Chu Thị Phương Thảo, sinh năm 1987 – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố Hà Nội. (Có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Cháu Nguyễn Thanh Trà, sinh ngày 13/5/2009; ĐKNKTT: Chung cư CT1, xã Vân Canh, huyện Hoài Đức, TP Hà Nội. (Vắng mặt).
2. Anh Nguyễn Văn Thạch, sinh năm 1970; ĐKNKTT: thôn Diệm Đông, xã Trà Giang, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình; Nơi ở: thôn Vân Lũng, xã Anh Khánh, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt).
3. Bà Nguyễn Thị Tuyết Minh, sinh năm 1968; ĐKNKTT: thôn Gạch, xã Sơn Đồng, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do thiếu tiền tiêu xài, ngày 30/03/2024, Nguyễn Xuân N cùng Nguyễn Như N rủ nhau đi xe máy cướp giật tài sản bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khoảng 13 giờ cùng ngày, Nghĩa điều khiển xe máy Honda wave BKS: 29X5-157.54 đến quán internet Lồng đèn đỏ (địa chỉ: thôn Tu Hoàng, phường Phương Canh, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội) để đón Ngà rồi đi về khu vực xã Vân Canh, huyện Hoài Đức để tìm người sơ hở cướp giật tài sản. Khi Nghĩa và Ngà đi đến khu vực thôn Kim Hoàng, xã Vân Canh, huyện Hoài Đức thì thấy cháu Nguyễn Lê Bảo Ngân (Sinh ngày 14/03/2009; HKTT: thôn Kim Hoàng, xã Vân Canh, Hoài Đức, Hà Nội) điều khiển xe đạp điện chở bạn là Nguyễn Thanh Trà (Sinh ngày 13/05/2009; HKTT: Chung cư C1, xã Vân Canh, Hoài Đức, Hà Nội), cháu Ngân có đeo chiếc dây chuyền bằng vàng ở cổ, đi ngược chiều nên Nghĩa điều khiển xe máy quay lại bám theo, cùng lúc đó Ngà ngồi phía sau cũng nhìn thấy cháu Ngân đeo chiếc dây chuyền bằng vàng trên cổ. Khi đi ra đến đoạn đường gần Ủy ban nhân dân xã Vân Canh, huyện Hoài Đức, Nghĩa lái xe áp sát bên trái xe đạp điện của cháu Ngân và Trà, khi hai xe song song với nhau thì Ngà ngồi sau dùng tay phải giật chiếc dây chuyền của cháu Ngân. Sau đó Nghĩa chở Ngà điều khiển xe bỏ chạy về hướng ngã tư Canh rồi đi đến cửa hàng vàng bạc Minh Tân (địa chỉ: Số 72 đường An Khánh, thôn Vân Lũng, xã An Khánh, huyện Hoài Đức, Hà Nội) để bán lấy tiền tiều xài. Nghĩa đỗ xe ở cửa quán còn Ngà vào trong bán sợi dây chuyền cho chủ cửa hàng là anh Nguyễn Văn Thạch (Sinh năm 1970; HKTT: thôn Diệm Đông, xã Trà Giang, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình) được 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng). Cả hai dùng số tiền này tiêu xài cá nhân hết. Sau đó, Nguyễn Xuân N và Nguyễn Như N bỏ trốn khỏi địa phương.
Ngày 30/03/2024, cháu Nguyễn Lê Bảo Ngân đã đến Công an xã Vân Canh để trình báo sự việc. Sau khi tiếp nhận tin báo, Công an huyện Hoài Đức đã phối hợp cùng Công an xã Vân Canh tiến hành Khám nghiệm hiện trường, thu thập tài liệu chứng cứ, và soát thu giữ hình ảnh camera an ninh của Công an xã ghi nhận hình ảnh liên quan đến vụ việc.
Ngày 02/05/2024, Nguyễn Xuân N đến cơ quan Công an huyện Hoài Đức xin đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Ngày 24/07/2024, cơ quan CSĐT - Công an huyện Hoài Đức bắt được Nguyễn Như N.
Vật chứng thu giữ của Nghĩa: 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS: 29X5-157.54; Số khung: RLHHC09033Y237522; Số máy: HC09E0236887.
Ngày 24/04/2024 cơ quan CSĐT Công an huyện Hoài Đức ra Yêu cầu định giá tài sản số 1584/YCĐTHS đối với chiếc dây chuyền vàng của cháu Ngân gửi Hội đồng định giá tài sản trong TTHS huyện Hoài Đức.
Ngày 03/05/2024 Hội đồng định giá tài sản trong TTHS huyện Hoài Đức đã ra Kết luận định giá số 187/KL-HĐĐGTS xác định giá trị chiếc dây chuyền vàng tại thời điểm ngày 30/03/2024 là: 2.732.200 đồng (Hai triệu bảy trăm ba mươi hai nghìn hai trăm đồng).
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS: 29X5-157.54; Số khung: RLHHC09033Y237522; Số máy: HC09E0236887 mà Nghĩa sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 30/03/2024 tại thôn Kim Hoàng, xã Văn Canh, Hoài Đức, Hà Nội, cơ quan CSĐT đã tiến hành xác minh chủ sỡ hữu là bà Nguyễn Thị Tuyết Minh, mẹ đẻ của Nghĩa (SN: 1968; HKTT: thôn Gạch, xã Sơn Đồng, Hoài Đức, Hà Nội), đăng ký xe máy mang tên bà Nguyễn Thị Tuyết Minh. Bà Minh khai, vào ngày 30/03/2024, bà Minh để chiếc xe máy trên tại nhà, Nghĩa có nói với bà Minh mượn xe đi mua đồ ăn, bà Minh đồng ý và không biết Nghĩa sử dụng xe vào mục đích Cướp giật tài sản. Xác minh tại Phòng Cảnh sát hình sự - Công an thành phố Hà Nội xác định: chiếc xe máy Honda Wave, màu xanh dương, BKS: 29X5-157.54 không nằm trong dữ liệu xe vật chứng. Tiến hành Trưng cầu giám định số khung, số máy nguyên thủy đối với chiếc xe máy trên tại Phòng Kỹ thuật hình sự - CATP xác định số khung số máy của chiếc xe là nguyên thủy. Hiện xe thu giữ theo hồ sơ vụ án.
Đối với anh Nguyễn Văn Thạch là chủ cửa hàng vàng bạc Minh Tân, quá trình làm việc cung cấp: Hàng ngày, anh Thạch giao dịch rất nhiều lần về việc mua bán, trao đổi vàng, không có sổ sách ghi chép, không nhớ được có mua lại chiếc dây chuyền vàng của Ngà đem đến bán ngày 30/03/2024 hay không. Nên không thu giữ được vật chứng. Do đó, không có căn cứ để xử lý đối với Nguyễn Văn Thạch.
Về trách nhiệm dân sự: Cháu Ngân và gia đình không yêu cầu bồi thường gì.
Quá trình điều tra vụ án, bị cáo Nguyễn Xuân N và bị cáo Nguyễn Như N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản cáo trạng số 185/CT-VKS ngày 22/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức đã truy tố bị cáo Nguyễn Xuân N và bị cáo Nguyễn Như N về tội “Cướp giật ” theo quy định tại điểm d, g khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:
Áp dụng điểm d, g khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, riêng bị cáo Nghĩa áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân N, bị cáo Nguyễn Như N mỗi bị cáo từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù về tội Cướp giật tài sản.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 1 chiếc quần, 1 chiếc áo. Trả lại cho bà Nguyễn Thị Tuyết Minh chiếc xe máy Honda Wave màu xanh dương BKS 29X5 – 157.54.
- Về trách nhiệm dân sự: Không.
- Về hình phạt bổ sung: Không.
Tại phiên toà, hai bị cáo khai nhận như đã khai tại Cơ quan điều tra và thừa nhận hành vi phạm tội đúng như bản cáo trạng đã truy tố.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Tuyết Minh đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bà chiếc xe máy để làm phương tiện đi lại.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Hai bị cáo ăn năn hối hận, thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho để có cơ hội sửa chữa, tái hoà nhập cộng đồng, là người có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hoài Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Xét lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Xuân N, bị cáo Nguyễn Như N tại phiên toà, phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai người bị hại, lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ và nội dung bản cáo trạng đã truy tố, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 30/03/2024, tại khu vực thôn Kim Hoàng, xã Vân Canh, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, Nguyễn Xuân N điều khiển xe máy Honda wave BKS: 29X5-157.54 chở Nguyễn Như N có hành vi cướp giật sợi dây chuyền vàng của cháu Nguyễn Lê Bảo Ngân trị giá 2.732.200 đồng ( Hai triệu bảy trăm ba mươi hai nghìn hai trăm đồng).
Hành vi của bị cáo Nguyễn Xuân N, bị cáo Nguyễn Như N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d, g khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự như Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Nhận xét về nhân thân và lượng hình đối với bị cáo: Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an và an toàn xã hội, do đó cần áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung, khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét nhân thân các bị cáo.
* Đối với bị cáo Nguyễn Xuân N: Nhân thân 02 tiền án về tội Cướp giật tài sản, 01 tiền sự về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tuy các tiền án và tiền sự này đã được xoá nhưng thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu.
-Tình tiết tăng nặng TNHS: Không
-Tình tiết giảm nhẹ TNHS: Bị cáo Nguyễn Xuân N được áp dụng tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội thành khẩn khai báo”, “đầu thú” quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
* Đối với bị cáo Nguyễn Như N: Nhân thân 02 tiền sự đi cai nghiện bắt buộc và Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tuy tiền sự này đã được xoá và hết thời hiệu nhưng thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu.
-Tình tiết tăng nặng TNHS: Không
-Tình tiết giảm nhẹ TNHS: Bị cáo Nguyễn Như N được áp dụng tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không có yêu cầu nên không xem xét.
Xử lý vật chứng và hình phạt bổ sung:
Tịch thu tiêu huỷ:
- 01 (một) chiếc quần dài, kiểu dáng nỉ thể thao màu đen, thêu hoạ tiết sọc trắng hai bên, thêu chữ “Dior”.
- 01 (một) Chiếc áo khoắc màu đen trơn, dài tay, có gắn mắc “DOLCE&GABBANA”.
Trả lại cho: Trả lại cho bà Nguyễn Thị Tuyết Minh, sinh năm: 1968; HKTT: thôn Gạch, xã Sơn Đồng, Hoài Đức, Hà Nội 01 chiếc xe máy Honda Wave màu xanh dương BKS 29X5 – 157.54, số khung: RLHHC09033Y237522, số máy: HC09E0236887 đã qua sử dụng. Do bà Minh cho Nghĩa mượn để sử dụng, việc Nghĩa sử dụng chiếc xe trên để đi cướp giật tài sản bà Minh không biết.
* Hai bị cáo khai nhận đã bán được chiếc dây chuyền cướp giật được với giá 800.000 đồng vì vậy cần truy thu sung công quỹ Nhà nước số tiền này.
- Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung bằng tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 171 Bộ luật hình sự.
Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, Người giám hộ cho người bị hại; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân N, bị cáo Nguyễn Như N phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Căn cứ : điểm d, g khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân N 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/5/2024.
Căn cứ : điểm d, g khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Như N 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/7/2024.
Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333, Điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
- Về trách nhiệm dân sự: Không
- Xử lý vật chứng và hình phạt bổ sung:
Tịch thu tiêu huỷ:
- 01 (một) chiếc quần dài, kiể dáng nỉ thể thao màu đen, thêu hoạ tiết sọc trắng hai bên, thêu chữ “Dior”.
- 01 (một) Chiếc áo khoắc màu đen trơn, dài tay, có gắn mắc “DOLCE&GABBANA”.
Trả lại cho: Bà Nguyễn Thị Tuyết Minh, sinh năm: 1968; HKTT: thôn Gạch, xã Sơn Đồng, Hoài Đức, Hà Nội 01 chiếc xe máy Honda Wave màu xanh dương đã qua sử dụng BKS 29X5-157.54, số khung: RLHHC09033Y237522, số máy: HC09E0236887.
(Số vật chứng trên hiện đang được lưu giữ tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Đức theo Biên bản giao nhận vật chứng, Phiếu nhập kho lập ngày 29/11/2024 giữa Công an huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội).
- Truy thu sung công quỹ Nhà nước: Số tiền 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng) đối với hai bị cáo. Mỗi bị cáo phải truy nộp sung công quỹ Nhà nước 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng).
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với hai bị cáo.
- Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Người giám hộ cho người bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo Bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hà Nội; - VKSND thành phố Hà Nội; - VKSND huyện Hoài Đức; - Công an huyện Hoài Đức; - Chi cục THADS huyện Hoài Đức; - Bị cáo; - Lưu HSVA, VPTA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ QUẢN VIỆT PHƯƠNG |