vanban.org

Bản án 189/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Trần Cẩm M, cho chị Trần Cẩm M được ly hôn anh Lê Hải V.

Về con chung: Giao cháu Lê Thiên P, sinh ngày 24/10/2011 cho anh Lê Hải V tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Trần Cẩm M không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trần Cẩm M phải chịu 300.000đ (b… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Trần Cẩm M khởi kiện ly hôn anh Lê Hải V"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Trần Cẩm M, cho chị Trần Cẩm M được ly hôn anh Lê Hải V.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 189/2024/HNGĐ-ST
Ngày 23-7-2024
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Quốc Trạng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hiển

Ông Thái Hoàng Bo

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Diễm My là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 283/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2024, về “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 191/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Cẩm M, sinh năm 1989; địa chỉ cư trú: Ấp TT, xã TT, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Lê Hải V, sinh năm 1987; địa chỉ cư trú: Ấp TT, xã TT, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Chị Trần Cẩm M trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Vương chung sống vào năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TD, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau; hôn nhân tự nguyện. Trong quá trình chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, cuộc sống không hòa hợp dẫn đến cự cãi, gia đình hai bên đã hòa giải hàn gắn nhiều lần nhưng không thành, ly thân từ năm 2019 đến nay. Chị yêu cầu ly hôn anh V.

- Về con chung: Chị và anh V có một con chung là cháu Lê Thiên P, sinh ngày 24/10/2011, hiện đang sống chung anh V. Chị đồng ý giao con cho anh V nuôi dưỡng, không đặt ra cấp dưỡng.

- Về tài sản và nợ: Không có.

Đối với anh Lê Hải V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Trần Cẩm M có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh Lê Hải V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với các đương sự trên là phù hợp.

Về hôn nhân: Chị M và anh V chung sống vào năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TD, hôn nhân tự nguyện theo đúng quy định nên được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. Theo chị M xác định nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, cuộc sống không hòa hợp dẫn đến cự cãi, gia đình hai bên đã hòa giải hàn gắn nhiều lần nhưng không thành. Xét thấy, chị M và anh V mỗi người đã có cuộc sống riêng, không còn có sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, anh V không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của chị M. Xét mâu thuẫn của anh chị đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình cho chị M được ly hôn anh V.

Xét về con chung: Cháu P đang sống chung với anh V vẫn phát triển tốt về mặt thể chất lẫn tinh thần và theo văn bản ghi ý kiến cháu P có nguyện vọng sống chung với anh V. Do đó Hội đồng xét xử giao cháu P cho anh V tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị M không có yêu cầu, anh V không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết là phù hợp.

Về tài sản và nợ: Chị M xác định không có, anh V không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết là phù hợp.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị M phải chịu 300.000đ, đã nộp đủ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và Lệ phí Tòa án;

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Trần Cẩm M, cho chị Trần Cẩm M được ly hôn anh Lê Hải V.

2. Về con chung: Giao cháu Lê Thiên P, sinh ngày 24/10/2011 cho anh Lê Hải V tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Trần Cẩm M không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trần Cẩm M phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000đ theo biên lai số 0001393 ngày 18 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi, chị M đã nộp đủ.

Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ