vanban.org

Bản án 189/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Q. Đống Đa, TP. Hà Nội Tuyên án 22/09/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty V đối với ông Nguyễn Song Thi C và bà Hoàng Thanh T.

Buộc ông Nguyễn Song Thi C và bà Hoàng Thanh T phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với Công ty V theo Hợp đồng tín dụng số 0371/HĐTD/GPBBĐ/2010 ngày 27/10/2010 với tổng số tiền lãi quá hạn phải thanh toán tính đến ngày 15/9/2023 là 4.473.335.290 đồng. Kể từ ngày 16/9/2023 cho đến khi thi hành án xong… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Thi Công"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty V đối với ông Nguyễn Song Thi C và bà Hoàng Thanh T.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN ĐỐNG ĐA
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 189/2023/DS-ST
Ngày 22-9-2023
V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thúy;

Các hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Xuân Hường;

Ông Nguyễn Phan Anh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga- Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa: Bà Phạm Hà Thanh- Kiểm sát viên.

Trong các ngày 15 và ngày 22/9/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 115/2023/TLST-DS ngày 16 tháng 6 năm 2023 về Tranh chấp Hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 288/2023/QĐXX-ST ngày 25/8/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 281 ngày 11/9/2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty V; Địa chỉ trụ sở: Số 22, phố H, phường L, quận H, Hà Nội; Đại diện theo ủy quyền: Ngân hàng thương mại TNHH MTV Dầu khí Toàn cầu; Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Bà Nguyễn Thị Tâm, ông Tạ Xuân Toản, ông Trịnh Minh Đông, ông Nguyễn Hữu Tấn, bà Phạm Thị Bé (theo Giấy ủy quyền ngày 17/10/2022).

Bị đơn: 1- Ông Nguyễn Song Thi C, sinh năm 1963; ĐKNKTT: Số 1 K, quận Đ, H.

2- Bà Hoàng Thanh T, sinh năm 1972; ĐKNKTT: Số 3 B, phường B, quận H, H .

Cùng cư trú tại: Phòng 2, P 1, Chung cư E, xã Đ, huyện Đ, Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 20/10/2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn Công ty V trình bày:

* Ngân hàng TMCP Dầu khí Toàn Cầu (nay là Ngân hàng thương mại TNHH MTV Dầu khí Toàn Cầu) (GPBank)- Chi nhánh Ba Đình và ông Nguyễn Song Thi C, bà Hoàng Thanh T đã ký Hợp đồng tín dụng số 0371/HĐTD/GPBBĐ/2010 ngày 27/10/2010 và Khế ước nhận nợ số 01.0371/KUNN/GPBBĐ/2010 ngày 28/10/2010 với nội dung:

+ Số tiền vay: 2.000.000.000 đồng.

+ Thời gian vay: 12 tháng, từ ngày 28/10/2010 đến ngày 28/10/2011.

+ Lãi suất cho vay: Áp dụng lãi suất thả nổi, thay đổi 01 tháng/01 lần vào ngày 15 hàng tháng. Lãi suất kỳ đầu tiên là 16,5%/năm. Lãi suất cho vay các kỳ tiếp theo bằng lãi suất cho vay của GPBank tại thời điểm điều chỉnh.

+ Mục đích vay vốn: Nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại tổ 2, cụm 1, phường Xuân La, quận Tây Hồ, Hà Nội.

+ Hình thức giải ngân: Chuyển khoản.

+ Trả nợ gốc: Cuối kỳ.

+ Trả nợ lãi: Vào ngày 15 hàng tháng, ngày trả lãi đầu tiên: 15/11/2010. Ngày trả gốc cuối cùng: Ngày 28/10/2011.

* Ông Nguyễn Song Thi C, bà Hoàng Thanh T và Ngân hàng GPBank- Chi nhánh Ba Đình đã ký Khế ước nhận nợ số 02.0371/KUNN/GPBBĐ/2010 ngày 28/10/2010 với nội dung:

+ Số tiền vay: 2.000.000.000 đồng.

+ Thời gian vay: 12 tháng, từ ngày 28/10/2010 đến ngày 28/10/2011.

+ Lãi suất cho vay: Áp dụng lãi suất thả nổi, thay đổi 01 tháng/01 lần vào ngày 15 hàng tháng. Lãi suất kỳ đầu tiên là 16,5%/năm. Lãi suất cho vay các kỳ tiếp theo bằng lãi suất cho vay của GPBank tại thời điểm điều chỉnh.

+ Mục đích vay vốn: Nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại tổ 2, cụm 1 phường Xuân La, quận Tây Hồ, Hà Nội.

+ Hình thức giải ngân: Chuyển khoản.

+ Trả nợ gốc: Cuối kỳ.

+ Trả nợ lãi: Vào ngày 15 hàng tháng, ngày trả lãi đầu tiên: ngày 15/11/2010. Ngày trả gốc cuối cùng: Ngày 28/10/2011.

* Tài sản bảo đảm cho khoản vay:

Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 237, tờ bản đồ số 7, tổ 5 phường Bồ Đề, quận Long Biên, thành phố Hà Nội theo "Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BB 281098, số vào số cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 1529/QĐ-UBND-82 do UBND quận Long Biên, thành phố Hà Nội cấp ngày 19/4/2010 đứng tên ông Nguyễn Song Thi C.

* Quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng:

- Ông Nguyễn Song Thi C trả nợ đều hàng tháng từ kỳ trả lãi tháng 10/2010 đến hết kỳ trả lãi tháng 9/2011 thì dừng trả nợ (trong đó kỳ trả lãi tháng 9/2011 chỉ trả được 649.405 đồng). Khoản nợ đã chuyển sang quá hạn từ ngày 29/10/2011. Sau đó Ngân hàng đã gửi cho ông Nguyễn Song Thi C và bà Hoàng Thanh T các thông báo chuyển nợ quá hạn, yêu cầu thanh toán nợ vay. Giữa Ngân hàng và ông C, bà T cũng có các buổi làm việc yêu cầu ông C, bà T phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho GPBank. Ông C trình bày nguyên nhân do kinh doanh bất động sản gặp khó khăn nên chưa thu hồi được nợ. Ngân hàng yêu cầu ông C nếu không tự bán được tài sản sẽ tự nguyện bàn giao tài sản cho Ngân hàng bán đấu giá theo quy định của pháp luật. Khoản vay đã được bán nợ cho C ty V vào ngày 18/11/2014.

- Trong thời gian từ năm 2014 đến năm 2017, ông C và bà T đã đi khỏi nơi cư trú, không hợp tác với Ngân hàng. Tuy nhiên Ngân hàng vẫn thường xuyên định giá tài sản theo quy định hiện hành của GPBank và kiểm tra định kỳ tình hình của tài sản. Trong lần kiểm tra hiện trạng tài sản gần nhất Ngân hàng đã gặp được ông C và bà T tại nhà nên đã yêu cầu làm việc để giải quyết khoản nợ.

- Ngày 27/11/2017, GPBank- Chi nhánh Ba Đình và ông C và bà T đã có biên bản làm việc thống nhất và cam kết bàn giao tài sản cho Ngân hàng để bán đấu giá. Ngày 01/12/2017 Ngân hàng đã ký Hợp đồng bán đấu giá tài sản số: 0112/2017/ĐG- Hà Thanh với C ty TNHH Dịch vụ Đấu giá và Tư vấn Hà Thanh về việc bán đấu giá tài sản của ông Nguyễn Song Thi C.

- Ngày 28/12/2017 C ty TNHH Dịch vụ Đấu giá và Tư vấn Hà Thanh đã tổ chức bán đấu tài sản thành C với giá 4.622.000.000 đồng (chưa trừ phí bán đấu giá là: 23.937.000 đồng).

Thu về số tiền cụ thể: Lần 1, ngày 28/12/2017 là: 436.063.000 đồng. Lần 2, ngày 09/02/2018 là: 500.000.000 đồng. Lần 3, ngày 23/02/2018 là: 3.662.000.000 đồng. Tổng: 4.598.063.000 đồng.

Tính đến ngày 20/10/2022, sau bán đấu giá tài sản, ông Nguyễn Song Thi C và bà Hoàng Thanh T đã trả được số tiền là:

- Tiền gốc: 4.000.000.000 đồng.

- Nợ lãi: 888.888.888 đồng.

- Lãi quá hạn: 484.045.738 đồng.

Tổng cộng 5.372.934.626 đồng.

* Tài sản đảm bảo và dư nợ gốc, lãi:

Dư nợ lãi quá hạn tạm tính đến hết ngày 20/10/2022 là 8.989.882.230 đồng

Tài sản bảo đảm: Không còn tài sản bảo đảm thế chấp tại GPB.

Nay C ty V đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Song Thi C và Hoàng Thanh T phải thanh toán trả cho C ty V tổng số tiền lãi quá hạn tạm tính đến hết ngày 17/10/2022 là: 8.989.882.230 đồng.

Đề nghị Tòa án tiếp tục tính lãi phát sinh đến ngày xét xử sơ thẩm. Trong trường hợp ông Nguyễn Song Thi C và bà Hoàng Thanh T chưa hoặc không thanh toán, đề nghị Tòa án cho xử lý tài sản khác của khách hàng. Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản sẽ được thanh toán toàn bộ khoản nợ trong Hợp đồng tín dụng trên, nếu số tiền thu được còn thừa V sẽ trả lại, nếu số tiền thu được còn thiếu thì V ghi nợ và ông Nguyễn Song Thi C và bà Hoàng Thanh T tiếp tục trả cho V số tiền còn thiếu.

Bị đơn ông Nguyễn Song Thi C trình bày: Năm 2010 ông C và vợ là bà Hoàng Thanh T có ký Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng thương mại TNHH MTV Dầu khí Toàn cầu để vay số tiền là 4.000.000.000 đồng. Quá trình thực hiện Hợp đồng do vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên ông bà đã bàn giao tài sản đảm bảo cho Ngân hàng để bán đấu giá. Sau khi bán đấu giá xong ông không nhớ đã trả bao nhiêu tiền, chỉ nhớ là đã trả toàn bộ nợ gốc cho Ngân hàng. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông bà thanh toán số nợ lãi quá hạn, ông bà không còn khả năng trả nợ nữa nên đề nghị Ngân hàng miễn toàn bộ lãi quá hạn còn lại cho ông bà.

Bị đơn bà Hoàng Thanh T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có mặt theo triệu tập nên Tòa án không lấy được lời khai của bà T về việc khởi kiện của Ngân hàng. Theo ông C trình bày, bà T đang đi chữa bệnh, ông C đã thông báo cho bà T về việc Ngân hàng khởi kiện, bà T không có ý kiến gì.

Tại phiên tòa:

* Đại diện nguyên đơn trình bày: Nguyên đơn cung cấp bổ sung các quyết định điều chỉnh lãi suất đối với Hợp đồng tín dụng của ông Nguyễn Song Thi C, nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông C, bà T phải thanh toán trả cho C ty V số tiền lãi quá hạn là 4.278.523.810 đồng và số tiền lãi chậm trả lãi là 194.811.480 đồng (tính đến ngày 15/9/2023), tổng cộng là 4.473.335.290 đồng

* Bị đơn ông Nguyễn Song Thi C trình bày: Ông không nhớ còn nợ Ngân hàng bao nhiêu tiền, đề nghị Hội đồng xét xử tính lãi theo quy định của pháp luật. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông bà thanh toán số nợ lãi quá hạn, ông bà không còn khả năng trả nợ nữa, lại đau ốm thường xuyên nên đề nghị Ngân hàng miễn toàn bộ lãi quá hạn còn lại cho ông bà.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tại phiên tòa: HĐXX đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật TTDS về phiên tòa sơ thẩm. Các quy định về phiên tòa, thủ tục bắt đầu phiên tòa, tranh tụng đều được HĐXX thực hiện theo đúng quy định tại Chương 14 BLTTDS.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn ông Nguyễn Song Thi C đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71, 72, 234 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn bà Hoàng Thanh T không thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của C ty V về việc buộc ông Nguyễn Song Thi C, bà Hoàng Thanh T phải thanh toán số tiền nợ lãi quá hạn theo quy định của pháp luật. Ông Nguyễn Song Thi C không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, bà Hoàng Thanh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận C khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cùng các tài liệu Tòa án xác minh thu thập được xác định đây là vụ án dân sự tranh chấp Hợp đồng tín dụng. Bị đơn ông Nguyễn Song Thi C đăng ký nhân khẩu thường trú tại số 191, phố Khâm Thiên, phường Thổ Quan, quận Đống Đa, Hà Nội. Vì vậy, Tòa án nhân dân quận Đống Đa thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền được quy định tại điều 26, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Bị đơn bà Hoàng Thanh T đã được Tòa án tống đạt niêm yết hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt bị đơn bà Hoàng Thanh T.

Về nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Ngày 27/10/2010 giữa Ngân hàng TMCP Dầu khí Toàn Cầu (nay là Ngân hàng thương mại TNHH MTV Dầu khí Toàn Cầu) (GPBank)- Chi nhánh Ba Đình và ông Nguyễn Song Thi C, bà Hoàng Thanh T đã ký Hợp đồng tín dụng số 0371/HĐTD/GPBBĐ/2010, theo đó Ngân hàng cho ông C, bà T vay số tiền 4.000.000.000 đồng, chia làm 02 Khế ước nhận nợ số 01.0371/KUNN/GPBBĐ/2010 ngày 28/10/2010 và Khế ước nhận nợ số 02.0371/KUNN/GPBBĐ/2010 ngày 05/11/2010, thời hạn vay 12 tháng, mục đích vay để nhận chuyển nhượng nhà đất.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 237, tờ bản đồ số 7, tổ 5 phường Bồ Đề, quận Long Biên, thành phố Hà Nội theo "Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BB 281098, số vào số cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 1529/QĐ-UBND-82 do UBND quận Long Biên, thành phố Hà Nội cấp ngày 19/4/2010 đứng tên ông Nguyễn Song Thi C.

Hội đồng xét xử nhận định Hợp đồng tín dụng nói trên được các bên ký kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với các quy định của Luật các tổ chức tín dụng và các quy định về cho vay tài sản của Bộ luật Dân sự. Do đó xác định đây là hợp đồng hợp pháp và có hiệu lực thi hành đối với các bên.

Quá trình thực hiện Hợp đồng, ông Nguyễn Song Thi C trả nợ đều hàng tháng từ ngày 28/10/2010 đến ngày 14/10/2011 thì dừng trả nợ. Khoản nợ đã chuyển sang quá hạn từ ngày 29/10/2011. Ngày 27/11/2017, giữa Ngân hàng GPBank- Chi nhánh Ba Đình và ông C, bà T đã có biên bản làm việc thống nhất và cam kết bàn giao tài sản cho Ngân hàng để bán đấu giá. Ngày 28/12/2017 C ty TNHH Dịch vụ Đấu giá và Tư vấn Hà Thanh đã tổ chức bán đấu tài sản thành C với giá 4.622.000.000 đồng (bao gồm cả phí bán đấu giá là 23.937.000 đồng). Thu về số tiền cụ thể: Lần 1, ngày 28/12/2017 là: 436.063.000 đồng. Lần 2, ngày 09/02/2018 là: 500.000.000 đồng. Lần 3, ngày 23/02/2018 là: 3.662.000.000 đồng. Tổng cộng: 4.598.063.000 đồng.

Theo bảng hạch toán thu nợ tính đến thời điểm bán đấu giá tài sản, ông C, bà T còn nợ Ngân hàng số tiền gốc là 4.000.000.000 đồng, lãi trong hạn là 114.017.262 đồng, lãi quá hạn là 4.649.133.334 đồng.

Sau khi bán đấu giá tài sản, ông Nguyễn Song Thi C và bà Hoàng Thanh T đã trả được số tiền là:

- Tiền gốc: 4.000.000.000 đồng.

- Nợ lãi trong hạn: 888.888.888 đồng.

- Lãi quá hạn: 484.045.738 đồng.

Tổng cộng 5.372.934.626 đồng.

Số tiền lãi quá hạn còn phải trả tính đến ngày 22/02/2018 là 4.278.523.810 đồng theo Bảng liệt kê quá trình trả lãi ngày 15/9/2023 là có căn cứ, được chấp nhận.

Do tài sản đảm bảo cho khoản vay đã được bán đấu giá nên số tiền ông C và bà T còn nợ Ngân hàng trở thành khoản nợ không có tài sản đảm bảo.

Về số tiền lãi chậm trả lãi: Từ ngày 23/02/2018 Ngân hàng áp dụng mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự là 10%/năm đối với số nợ lãi quá hạn chưa trả. Việc áp dụng mức lãi suất trên là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận, số tiền lãi chậm trả lãi tính từ ngày 23/02/2018 đến hết ngày 15/9/2023 là 194.811.480 đồng.

Tổng cộng số tiền ông Nguyễn Song Thi C và bà Hoàng Thanh T phải trả cho Công ty V tính đến hết ngày 15/9/2023 là 4.473.335.290 đồng.

Về án phí: Do nguyên đơn Công ty V được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên được hoàn trả tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Bị đơn ông Nguyễn Song Thi C thuộc trường hợp được miễn không phải nộp tiền án phí. Bị đơn bà Hoàng Thanh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải trả cho nguyên đơn là 56.236.668 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147; Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

- Căn cứ Điều 7, khoản 1 Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật lãi, lãi suất và phạt vi phạm.

- Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty V đối với ông Nguyễn Song Thi C và bà Hoàng Thanh T.

2. Buộc ông Nguyễn Song Thi C và bà Hoàng Thanh T phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với Công ty V theo Hợp đồng tín dụng số 0371/HĐTD/GPBBĐ/2010 ngày 27/10/2010 với tổng số tiền lãi quá hạn phải thanh toán tính đến ngày 15/9/2023 là 4.473.335.290 đồng.

Kể từ ngày 16/9/2023 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận việc thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bị đơn ông Nguyễn Song Thi C thuộc trường hợp được miễn không phải nộp tiền án phí. Bị đơn bà Hoàng Thanh T phải nộp 56.236.668 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Công ty V được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí là 58.000.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 72064 ngày 16/6/2023 tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Đống Đa, Hà Nội.

4. Về quyền kháng cáo: Công ty V có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Song Thi C, bà Hoàng Thanh T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.

Cỡ chữ