vanban.org

Bản án 189/2022/KDTM-ST — Tranh chấp về mua bán hàng hóa

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần thương mại và đầu tư VK; Buộc Công ty TNHH THP phải có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty cổ phần thương mại và đầu tư VK số tiền 535.

Quy định chung: Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà bên phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ của mình thì phải trả lãi đối với số tiền chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền tương ứng với thời gian chậm thi hành án. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "Việt Khánh"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần thương mại và đầu tư VK; Buộc Công ty TNHH THP phải có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty cổ phần thương mại và đầu tư VK số tiền 535.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NDTP. Z
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 189/2022/KDTM-ST
Ngày: 27/9/2022
V/v: “Tranh chấp hợp đồng
dịch vụ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Z, TỈNH KHÁNH HÒA

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Bà Lê Thị Hạng Các Hội thẩm nhân dân :

Bà Võ Thị Bời

Bà Nguyễn Thị Lý

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Z, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Z tham gia phiên tòa: Bà Lê Ánh Dương

- Kiểm sát viên

Ngày 27 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Z mở phiên toà xét xử công khai vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số: 15/2021/TLST -KDTM ngày 11 tháng 3 năm 2021, về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2022/QĐXX - KDTM ngày 08 tháng 7 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2022/QĐST - KDTM ngày 26 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự :

- Nguyên đơn: Công ty Cổ phần Thương mại và Đầu tư VK

Địa chỉ: 11A Lê Đại Hành, phường Phước Tiến, thành phố Z

Đại diện theo pháp luật: Ông Cao Thành H - Giám đốc

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quang V (Theo giấy ủy quyền lập ngày 25/12/2020 và ngày 01/9/2022)

Địa chỉ: 5/8B Máy Nước, phường PT, thành phố Z

(Ông Vinh có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Công ty TNHH THP

Trụ sở: 6B Bãi Dương, phường VH, thành phố Z

Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị V - Giám đốc

Địa chỉ: 98B/5 Trần Phú, phường LT, thành phố Z

(Bà Vinh vắng mặt).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Đỗ Văn H; Địa chỉ: Đỗ Thượng, xã Quang Vinh, huyện ÂT, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung ngày 01/02/2021 của Công ty cổ phần thương mại và đầu tư VK, quá trình tiến hành tố tụng đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Quang V trình bày:

Ngày 21/01/2019, Công ty cổ phần Thương mại và Đầu tư VK (Viết tắt là Công ty VK) ký hợp đồng số 19/HĐDV/VK.2019 cung cấp dịch vụ giặt ủi với Công ty TNHH THP. Quá trình thực hiện hợp đồng, hai bên đã lập biên bản xác nhận công nợ với số tiền là 378.539.200đồng thể hiện tại biên bản đối chiếu công nợ ngày 21/9/2020. Công ty Việt Khánh đã nhiều lần gởi văn bản đề nghị Công ty TNHH T HPphải thanh toán số tiền nợ với thời hạn cuối là ngày 30/11/2020. Tuy nhiên, đến nay Công ty TNHH THPvẫn không thanh toán. Vì vậy, Công ty VK khởi kiện ra Tòa đề nghị Tòa án buộc Công ty TNHH THP phải thanh toán cho Công ty V K số tiền nợ gốc là 378.539.200 đồng và tiền lãi phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán từ ngày 01/12/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 27/9/2022) là 156.825.420đồng.

- Bị đơn Bà Nguyễn Thị V- Giám đốc Công ty TNHH THP được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do nên không tiến hành lấy lời khai, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được.

- Tại biên bản lấy lời khai đương sự ngày 12/4/2022, ông Đỗ Văn H trình bày: Tôi tuy có danh là thành viên góp vốn của Công ty THPnhưng toàn bộ hoạt động kinh doanh đều do bà V chịu trách nhiệm, tôi không được bà V thông báo cũng như không tham gia ký kết bất kỳ hợp đồng nào trên danh nghĩa đại diện cho công ty THP. Vì vậy, tôi không đồng ý và không chịu trách nhiệm về các hoạt động kinh doanh của bà Nguyễn Thị V. Do nhiều công việc nên tôi đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Z cho tôi được vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc cũng như tại các phiên tòa xét xử.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Z phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Viện kiểm sát có ý kiến: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn Công ty TNHH THP phải thanh toán cho Công ty VK số tiền nợ gốc là: 378.539.200đồng và tiền lãi phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán từ ngày 01/12/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 27/9/2022) là 156.825.420đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Quang V; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Văn H xin xét xử vắng mặt; Đại diện theo pháp luật – Công ty TNHH THP bà Nguyễn Thị V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do; Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền xét xử:

Công ty VK yêu cầu Công ty TNHH THPthanh toán tiền do hợp đồng dịch vụ còn nợ thuộc quan hệ tranh chấp “Hợp đồng dịch vụ” theo quy định tại Điều 401, 429 của Bộ luật dân sự.

Công ty TNHH THP có địa chỉ trụ sở tại 6B Bãi Dương, phường VH, thành phố Z, tỉnh Khánh Hòa. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Z.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy: Giữa Công ty VK và Công ty TNHH THP có ký hợp đồng dịch vụ giặt ủi số 19 HĐDV/VK.2019 ngày 21/01/2019 về việc: Công ty TNHH THPsẽ giao toàn bộ hàng vải tại khách sạn cho Công ty VK giặt ủi thường xuyên; Phương thức và thời hạn thanh toán được quy định tại Điều 3 của Hợp đồng;Thời hạn của hợp đồng là 01 năm kể từ ngày ký 21/01/2019 đến ngày 21/01/2020. Như vậy, giao dịch dân sự giữa Công ty VK và Công ty TNHH THPlà hoàn toàn hợp pháp do các bên tự nguyện tham gia giao dịch, mục đích và nội dung của giao dịch không trái quy định của pháp luật. Tại bản đối chiếu công nợ lập ngày 21/9/2020, thể hiện Công ty VK đã thực hiện đầy đủ khối lượng công việc và đáp ứng yêu cầu chất lượng của hợp đồng dịch vụ giặt ủi số 19 mà hai bên đã ký kết. Tuy nhiên, Công ty TNHH THP không thanh toán khoản tiền như đã thỏa thuận trong hợp đồng, đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán kể từ ngày 01/12/2020. Như vậy, tính đến ngày 27/9/2022 Công ty TNHH THP còn nợ của Công ty VK số tiền gốc là: 378.539.200 đồng và tiền lãi chậm thanh toán phát sinh kể từ ngày 01/12/2020 với mức lãi suất được áp dụng theo quy định của Ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt nam – Chi nhánh Khánh Hòa; Ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam – Chi nhánh Khánh Hà và Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Khánh Hòa tại thời điểm xét xử tháng 9/2022 là 9,5%/năm trên số nợ gốc, cụ thể là: (378.539.200 đồng x 0.79% x 34 tháng 27 ngày) = 156.825.420đồng. Do đó, căn cứ Điều 401; 429 của Bộ luật dân sự; Điều 85; Điều 306 của Luật thương mại; Hội đồng xét xử có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Công ty VK, buộc Công ty TNHH THPcó nghĩa vụ thanh toán cho Công ty VK số tiền là: 535.364.620 đồng. (Trong đó: nợ gốc là 378.539.200đồng và tiền lãi do vi phạm nghĩa vụ thanh toán là 156.825.420đồng).

Về án phí: Bị đơn Công ty TNHH THP phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là: 20.000.000đồng + (135.364.620 đồng x 4%) = 25.414.585đồng. (Hai mươi lăm triệu bốn trăm mười bốn ngàn năm trăm tám mươi lăm đồng). Hoàn lại cho Công ty cổ phần thương mại và đầu tư VK số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 10.328.000đồng (Mười triệu ba trăm hai mươi tám ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0000589 ngày 10/3/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Z.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 228 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 401; 429 của Bộ luật dân sự;

- Căn cứ Điều 85; Điều 306 của Luật thương mại;

- Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần thương mại và đầu tư VK; Buộc Công ty TNHH THP phải có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty cổ phần thương mại và đầu tư VK số tiền 535.364.620đồng (Năm trăm ba mươi lăm triệu ba trăm sáu mươi bốn ngàn sáu trăm hai mươi đồng). (Trong đó nợ gốc là 378.539.200 đồng và tiền lãi do vi phạm nghĩa vụ thanh toán là 156.825.420 đồng).

Quy định chung: Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà bên phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ của mình thì phải trả lãi đối với số tiền chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền tương ứng với thời gian chậm thi hành án. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không đợc vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, nếu không thỏa thuận được thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

2. Về án phí:

Bị đơn Công ty TNHH THP phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là: 25.414.585đồng. (Hai mươi lăm triệu bốn trăm mười bốn ngàn năm trăm tám mươi lăm đồng). Hoàn lại cho Công ty cổ phần thương mại và đầu tư VKsố tiền tạm ứng án phí đã nộp là 10.328.000đồng (Mười triệu ba trăm hai mươi tám ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0000589 ngày 10/3/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Z.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn; Bị đơn; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án

Cỡ chữ