- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 189/2022/HS - ST Ngày 09 tháng 11 năm 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
-----------------
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
Với thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trường.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tư và ông Nguyễn Văn Bảng.
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Huệ- Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 11 năm 2022 tại điểm cầu trụ sở TAND tỉnh Bắc Giang và điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang. TAND thành phố Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm Thụ lý số 181/2022/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 196/2022/QĐXXST-HS ngày 31/10/2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đỗ Chiến T, sinh năm 1986.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện tại: Số nhà 27A, ngõ 15, đường Hồ Công Dự, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không.
Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 07/12.
Bố: Đỗ Văn Đ, sinh năm 1958.
Mẹ: Đỗ Thị N, sinh năm 1961.
Gia đình có: 2 anh chị em, bị cáo là con thứ 2.
Tiền án:
- Bản án hình sự sơ thẩm số 19 ngày 17/02/2009 của TAND thành phố Bắc Giang xử phạt 36 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
- Bản án hình sự sơ thẩm số 44 ngày 26/02/2009 của TAND huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Bản án hình sự sơ thẩm số 254 ngày 25/11/2014 của TAND thành phố Bắc Giang xử phạt 02 năm 06 tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Bản án hình sự sơ thẩm số 29 ngày 24/6/2019 của TAND huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 16/7/2021.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 17 ngày 26/01/2006 của TAND thành phố Bắc Giang xử phạt 08 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”, đã Đ xóa án tích.
- Bản án hình sự sơ thẩm số 175 ngày 27/11/2006 của TAND thành phố Bắc Giang xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt tại Bản án hình sự sơ thẩm số 17 ngày 26/01/2006 của TAND thành phố Bắc Giang buộc chấp hành hình phạt chung là 18 tháng tù, đã Đ xóa án tích.
- Ngày 22/6/2014 bị Công an phường Thọ Xương, thành phố Bắc Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/8/2022. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
*Bị hại: Anh Vi Văn C, sinh năm 2001. Địa chỉ: Thôn Đồng Phong, xã Đồng Cốc, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Chị Hoàng Thị V, sinh năm1999. Địa chỉ: Số nhà 31, ngõ 2, đường Thân Công Tài, phường Lê Lợi, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. (có mặt)
- Bà Đỗ Thị N, sinh năm 1961. Địa chỉ: Số nhà 27A, ngõ 15, đường Hồ Công Dự, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. (có mặt)
- Anh Hoàng Văn H, sinh năm 1992. Địa chỉ: Thôn Đồng Thờm, xã Lam Cốt, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
- Anh Vũ Đăng K, sinh năm 1983. Địa chỉ: Số nhà 35, đường Quang Trung, phường Trần Phú, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án Đ tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ ngày 06/7/2022, Đỗ Chiến T, sinh năm 1986, trú tại số nhà 27A, ngõ 15, đường Hồ Công Dự, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang điều kH xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 98B3-883.78 chở chị Hoàng Thị V, sinh năm 1999, trú tại số nhà 31, ngõ 2, đường Thân Công Tài, phường Lê Lợi, thành phố Bắc Giang (là bạn gái của T) đến phòng trọ của anh Nguyễn Văn Dũng tại khu vực gần bến xe khách Bắc Giang mục đích để chị V đòi tiền cho anh Dũng vay trước đó. Chị V thấy phòng trọ của anh Dũng khóa cửa ngoài nên nhờ T đưa đến phòng trọ bạn gái anh Dũng tại ngõ 59, đường Nguyễn Nghĩa Lập, tổ Hà Vị 1, phường Thọ Xương, thành phố Bắc Giang mục đích tìm gặp anh Dũng. Khi đi đến đầu ngõ, T đỗ xe ngoài và bảo chị V đứng đợi trông xe. T đi bộ vào phòng trọ tìm anh Dũng thì thấy khoá cửa ngoài. T định ra về thì phát hiện cổng nhà trọ ở số nhà 07, ngõ 59, tổ Hà Vị 1, phường Thọ Xương, thành phố Bắc Giang đang mở. T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. T đi vào trong và thấy các phòng trọ đều khoá cửa. T lấy 01 chiếc móc phơi quần áo bằng kim loại treo trên dây phơi bên ngoài sân và đi đến gần cửa sổ phòng trọ thứ 2. Đây là phòng của Vi Văn C, sinh năm 2001, trú tại thôn Đồng Phong, xã Đồng Cốc, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang thuê trọ. T cầm chiếc móc phơi quần áo đưa vào khe hở giữa hai cánh cửa sổ và đẩy bật móc cánh mở cửa sổ ra. Lúc này, anh C đang nằm ngủ trên giường. T quan sát thấy tại đầu giường sát cạnh cửa sổ có để một chiếc điện thoại Iphone 6 plus màu trắng và 01 chiếc ví da màu vàng nâu. T thò tay phải vào bên trong trộm cắp chiếc điện thoại và chiếc ví da rồi đút vào túi quần bên trái đang mặc sau đó đi ra chỗ chị V đứng bên ngoài chờ. T nói với chị V là không thấy anh Dũng ở đó rồi điều kH xe chở chị V đi về nhà. Trên đường về đến bờ đê Châu Xuyên, T dừng xe và bảo chị V đợi để đi vệ sinh. T đi xuống sườn bụi cây, bỏ chiếc ví vừa trộm cắp ra kiểm tra thấy bên trong có 330.000 đồng, 01 giấy phép lái xe mô tô và 01 căn cước công dân đều mang tên Vi Văn C. T lấy hết tiền còn ví và giấy tờ thì vứt vào bụi cây. Sau đó, T chở chị V đi về. Theo T khai khoảng 09 giờ cùng ngày, T đi đến cửa hàng điện thoại Đăng K Mobile tại số nhà 36, đường Nguyễn Văn Cừ, tổ Nghĩa Long, phường Lê Lợi, thành phố Bắc Giang bán điện thoại đã trộm cắp cho anh Vũ Đăng K, sinh năm 1983 Đ 350.000 đồng.
Ngày 05/8/2022, anh Vi Văn C có đơn trình báo và giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 đĩa CD có video trích xuất từ camera tại khu nhà trọ có ghi lại hình ảnh Đỗ Chiến T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
Ngày 06/8/2022, Đỗ Chiến T đầu thú và khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như nêu trên. Theo T khai số tiền bán điện thoại và số tiền lấy trong ví đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết.
Căn cứ lời khai của T, ngày 06/8/2022 Cơ quan điều tra đã truy tìm tại vị trí tiếp giáp vỉa hè đường đê Châu Xuyên, phường Lê Lợi, thành phố Bắc Giang và thu giữ chiếc ví da màu vàng nâu bên trong có 01 căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe đều mang tên Vi Văn C.
Kết luận định giá tài sản số 138/KL-KTHS ngày 10/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Bắc Giang, kết luận:
- 01 chiếc ví làm bằng chất liệu da, màu vàng nâu, bên ngoài có dòng chữ “H2 LATHER” có kích thước (20/8,5)cm, mua mới tháng 11/2018, cũ đã qua sử dụng, có trị giá tại thời điểm ngày 06/7/2022 là 30.000 đồng
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6Plus, dung lượng 16G, màu trắng, không gắn sim, mua cũ tháng 5/2022, đã qua sử dụng, có trị giá tại thời điểm ngày 06/7/2022 là 800.000 đồng.
Cơ quan điều tra đã tiến hành cho bị cáo T tự xác định hiện trường và thực nghiệm điều tra. Kết quả T xác định đúng địa điểm trộm cắp và thực hiện thuần thục hành vi trộm cắp như đã khai.
Trong quá trình điều tra, bị cáo T khai bán chiếc điện thoại đã trộm cắp cho anh Vũ Đăng K. Tuy nhiên, anh K khai không nhớ có mua chiếc điện thoại của T đem bán hay không. Cơ quan điều tra đã cho T và anh K đối chất nhưng các bên giữ nguyên lời khai.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 16/8/2022, chị V đã đến xin lỗi và khắc phục bồi thường số tiền 1.200.000 đồng cho anh C; anh C có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho T.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại anh Vi Văn C chiếc ví da, giấy phép lái xe và căn cước công dân. Đối với chiếc xe mô tô Yamaha Sirius BKS 98B3-883.78. Kết quả điều tra xác định bà Đỗ Thị N là mẹ bị cáo T đưa tiền cho T mua xe trả góp sau đó T đi đăng ký và sử dụng để làm phương tiện đi lại. Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng chiếc xe mô tô trên để xử lý theo quy định.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, Đỗ Chiến T đã khai nhận hành vi phạm tội.
Tại Bản cáo trạng số 179/CT-VKS ngày 17/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo Đỗ Chiến T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Đỗ Chiến T từ 09 đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 06/8/2022. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về vật chứng: Căn cứ điểm a và c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Trả lại cho bị cáo Đỗ Chiến T chiếc xe mô tô Yamaha Sirius BKS 98B3-883.78 đã qua sử dụng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nhận tội và không có tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo Đỗ Chiến T nói lời sau cùng đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã Đ tranh tụng tại phiên tòa nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng điều tra viên, kiểm sát viên, của cơ quan điều tra Công an thành phố Bắc Giang, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2]. Về sự vắng mặt của người bị hại, người liên quan tại phiên tòa không có lý do nhưng đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự.
. Về cấu thành tội phạm: Đỗ Chiến T đã bị Tòa án kết án về các tội “Cưỡng đoạt tài sản” và “Trộm cắp tài sản” nhưng chưa Đ xóa án tích. Ngày 06/7/2022, T trộm cắp của anh Vi Văn C tại nhà trọ ở số nhà 07, ngõ 59, tổ Hà Vị 1, phường Thọ Xương, thành phố Bắc Giang 01 chiếc điện thoại Iphone 6 plus, 01 chiếc ví da bên trong có 330.000 đồng, 01 giấy phép lái xe mô tô và 01 căn cước công dân đều mang tên anh Vi Văn C. Tổng trị giá tài sản mà T trộm cắp của anh C là 1.160.000 đồng.
Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác Đ pháp luật bảo vệ, gây dư luận xấu và hoang mang trong quần chúng nhân dân cũng như gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương.
. Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã tác động gia đình bồi thường, khắc phục hậu quả; và sau khi phạm tội đã ra đầu thú; bị hại có đơn xin giảm nhẹ nên bị cáo Đ hưởng tình tiết giảm nhẹ Đ quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
. Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào Đ quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
. Xét về tiền án và nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo là người có 4 tiền án về tội trộm cắp tài sản và cưỡng đoạt tài sản. Ngoài ra bị cáo là người có nhân thân xấu, 02 lần bị kết án về tội trộm cắp tài sản và 01 lần bị Công an phường Thọ Xương, thành phố Bắc Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Nên cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Ngày 16/8/2022, chị V đã đến xin lỗi và khắc phục, bồi thường số tiền 1.200.000 đồng cho anh C thay bị cáo T, anh C có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho T. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
. Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại anh Vi Văn C chiếc ví da, giấy phép lái xe và căn cước công dân. Đối với chiếc xe mô tô Yamaha Sirius BKS 98B3-883.78. Kết quả điều tra xác định bà Đỗ Thị N là mẹ bị cáo T đưa tiền cho T mua xe trả góp sau đó T đi đăng ký và sử dụng để làm phương tiện đi lại không liên quan tới việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Đỗ Chiến T 10 (mười) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 06/8/2022. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Trả lại cho bị cáo Đỗ Chiến T chiếc xe mô tô Yamaha Sirius BKS 98B3-883.78 đã qua sử dụng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp án phí, lệ phí tòa án, buộc bị cáo Đỗ Chiến T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và người liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận Đ bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
5. Trường hợp bản án Đ thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người Đ thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiêụ thi hành án Đ thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh Bắc Giang; - VKSND Tp Bắc Giang; - Công an Tp Bắc Giang; - CCTHADS Tp Bắc Giang; - UBND nơi bị cáo cư trú; - Người tham gia tố tụng; - Lưu Hồ sơ, Vp. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Trường THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |