vanban.org

Bản án 189/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Đông Anh, TP. Hà Nội Tuyên án 10/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đô Quốc S phạm tội “Làm gia tài liệu của Cơ quan, tổ chức” và “Lưa đao chiếm đoạt tài san”.

Các bị cáo Đô Quốc S1 và Hoàng Văn H phạm tội “Lưa đao chiếm đoạt tài san”. Xử phạt: Đỗ Quốc S 28 (Hai mươi tám) tháng tu về tội “Làm gia tài liệu của cơ quan, tổ chức”; 26 (Hai mươi sáu) tháng tu về tội “Lưa đao chiếm đoạt tài san”. Tổng hợp hình phạt chung ca của hai tội là 54 (Năm mươi tư) tháng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Quốc S và đồng phạm - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đô Quốc S phạm tội “Làm gia tài liệu của Cơ quan, tổ chức” và “Lưa đao chiếm đoạt tài san”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình S; Điều 174 Bộ luật hình S; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình S
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
Huyện Đông A
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-----------------
Bản án số: 189/2021/HSST
Ngày: 10/11/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN Huyện Đông A – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hoàng Thị An.

2. Ông Tô Văn Ngọc.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hùng – Thư ký Toà án nhân dân Huyện Đông A - Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Đông A tham gia phiên toà:

Bà Lê Thị Thanh Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 10/11/2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Đông A, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình S sơ thẩm thụ lý số 190/2021/TLST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 181/2021/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 44/2021/QĐST-HS ngày 26/10/2021 đối với:

I- Các bị cáo:

1. Họ tên: Đỗ Quốc S; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1990; Tại: Bắc Giang; Nơi cư tru: Tân Cầu R, Bắc L, Hiệp H, Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12; Họ và tên cha: Đô Quốc L; Họ và tên mẹ: Đăng Thị L1; Tiền S, tiền án: Không; Bị bắt tạm giam ngày 27/3/2021; Có măt tại phiên tòa.

2. Họ tên: Đỗ Quốc S1; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm:

1995; Tại: Bắc Giang; Nơi cư tru: Tân Cầu R, Bắc L, Hiệp H, Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12; Họ và tên cha: Đô Quốc L; Họ và tên mẹ: Đăng Thị L1; Vợ: Trịnh Thị T; có 01 con sinh năm 2017; Tiền S, tiền án: 01 tiền án: Tháng 7/2019 phạm tội, ngày 11/11/2019 Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tinh Thái Nguyên xử phạt 12 tháng tu nhưng cho hưởng án treo về tội “Lưa đao chiếm đoạt tài san”, thơi hạn thử thách 24 tháng (Ban án số 593). Lần phạm tội này của bị cáo không bị tính là tái phạm, do lần phạm tội của tiền án được thực hiện sau ngày bị cáo phạm tội của ban án này; Bị bắt tạm giam ngày 27/3/2021; Có măt tại phiên tòa.

3. Họ tên: Hoàng Văn H; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1998; Tại: Tuyên Quang; Nơi cư tru: Cây X, Đức N, Hàm Y, Tuyên Quang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Cao Lan;

Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Văn hóa: 12/12; Họ và tên cha: Hoàng Văn L2; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị H1; Tiền S, tiền án: Không;

Bị bắt tạm giam ngày 31/3/2021; Có măt tại phiên tòa.

II- Người bị hại:

1- Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam.

Trụ sở: Số 198 Trần Quang K, phương Lý Thái T, quận Hoàn K, Thành phố Hà Nội. Ngươi đại diện ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Hữu H2 - Phó trưởng phòng dịch vụ khách hàng Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Đông A.

Xin vắng măt tại phiên tòa.

2- Công ty Tài chính TNHH MTV Mirae Asset Việt Nam.

Trụ sở: Số 91 P, phương Bến N, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngươi đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thế T - Chuyên viên phòng chống gian lận.

Xin vắng măt tại phiên tòa.

3- Công ty Tài Chính TNHH MB Shinsei (Mcredit). Trụ sở: Tầng 9-12, Tòa nhà MB Bank, số 21 Cát L, quận Đống Đ, Thành phố Hà Nội. Ngươi đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Bà Vũ Thị Nga S - Giám sát thu hồi nợ pháp lý.

Xin vắng măt tại phiên tòa.

III- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1- Anh Hoàng Văn C - Sinh năm 1995. HKTT: Xóm 6 Ngọc C, xã Thăng L, Huyện Nông C, tinh Thanh Hóa.

Vắng măt tại phiên tòa.

2- Anh Đinh Văn C1 - Sinh năm 1997. Nơi cư tru: Thôn Đồng C, xã Nhân H, Huyện Quế V, tinh Bắc Ninh.

Xin vắng măt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đô Quốc S, Đô Quốc S1 và Hoàng Văn H là các đối tượng không có việc làm ổn định. Để có tiền tiêu xài, S rủ S1 và H cung nhau truy cập các trang mạng xã hội đăng bài, tìm những ngươi đang có nhu cầu vay tiền, lưa lấy giấy tơ của ngươi vay, làm gia chứng minh nhân dân sau đó làm gia hồ sơ vay tiền để lưa đao chiếm đoạt tài san của các Công ty tài chính và Ngân hàng.

Ngày 16/8/2018, do đang có nhu cầu vay vốn, anh Đinh Văn C1 (SN: 1997; HKTT: thôn Đồng C, xã Nhân H, Hện Quế V, tinh Bắc Ninh) truy cập vào trang web có tên miền “vaytienonline” để tìm hiểu về việc vay tiền thì thấy có bài đăng với nội dung cho vay lãi suất 1,1%/tháng do Đô Quốc S đăng bài. anh C1 gọi vào số điện thoại 01684340200 trên bài đăng của S để hỏi thủ tục vay tiền. S giới thiệu với anh C1 mình tên Cương – làm ở Ngân hàng Vpbank ở Hà Nội. anh C1 nói muốn vay tiền, S hướng dẫn anh C1 chuẩn bị các giấy tơ (là ban gốc) gồm: Chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu, bao hiểm y tế và ban sao kê tiền lương đều mang tên Đinh Văn C1 và hẹn đến găp tại khu vực thành phố Hà Nội để làm thủ tục vay. Do anh C1 không đi được nên S nói với anh C1 sẽ nhơ một ngươi bạn làm ở Ngân hàng chi nhánh Bắc Ninh đến găp làm thủ tục vay tiền cho anh C1. Sau đó, S bao với S1 và H nói dối là nhân viên Ngân hàng VPBank đi găp anh C1. Khoang 09 giơ cung ngày, S1 và H đến quán cà phê Hishane thuộc địa phận phương Ninh X, thành phố Bắc Ninh, tinh Bắc Ninh găp anh C1. H giới thiệu với anh C1 tên là Hung – làm ở ngân hàng Vpbank và yêu cầu anh C1 đưa tất ca các giấy tơ cá nhân, ký tên vào 01 ban khai thông tin vay tiền của ngân hàng Vpbank do H đưa ra. Sau khi anh C1 ký vào đơn đề nghị vay 30.000.000 đồng và đưa cho H , H cầm các giấy tơ liên quan rồi bao anh C1 ngồi đợi H đi làm thủ tục vay tiền, anh C1 đồng ý. H đi ra vị trí S1 đang chơ rồi cung đi luôn về phòng trọ của S ở khu vực xã Kim C, Huyện Đông A, thành phố Hà Nội. Sau khi về đến phòng trọ, S cắt, tách bỏ anh và dấu vân tay của anh C1 ở chứng minh nhân dân rồi cắt anh và dấu vân tay trong chứng minh nhân dân của H dán vào và đưa cho H ép plastic lại. Sau đó, S dung đồng xu dập vào phần góc phai bên dưới anh để gia hình dấu Quốc Huyiệu.

Ngày 21/8/2018, S bao H cầm các giấy tơ liên quan đến anh Đinh Văn C1 cung chứng minh nhân dân gia đã dán anh của H đến Công ty tài chính TNHH Một thành viên Mirae Asset (địa chi: Tầng 4/229, Tây S, Đống Đ, Hà Nội) làm hợp đồng, gia chữ ký của anh C1 vay số tiền 20.000.000 đồng. H sử dụng tài khoan 0351000965632 mang tên Đinh Văn C1 thuộc ngân hàng Vietcombank để đăng ký vay tiền. Ngày 06/9/2018, Công ty tài chính TNHH MTV Mirae Asset giai ngân cH ển vào tài khoan ngân hàng trên của anh C1 số tiền 20.000.000 đồng, S chi đạo S1 đưa H cầm chứng minh nhân dân gia đến ngân hàng Vietcombank - chi nhánh Đông A rut số tiền 20.000.000 đồng rồi cầm về đưa cho S. S xem biên lai rut tiền thì xác định trong tài khoan của anh C1 vẫn còn số tiền 6.200.000 đồng nên S bao H tiếp tục cầm chứng minh nhân dân gia đến ngân hàng Vietcombank – chi nhánh Đông A rut hết số tiền trong tài khoan của anh C1. Ngày 10/9/2018, H đến ngân hàng Vietcombank - chi nhánh Đông A đề nghị rut số tiền 6.200.000 đồng rồi cầm về đưa cho S, H được S chia cho 500.000 đồng. Sau khi rut được số tiền 26.200.000 đồng tư tài khoan của anh C1, S tiếp tục đăng ký làm hồ sơ vay tiền của Công ty tài chính Mcredit thuộc Ngân hàng MB Bank (địa chi: Phố Ngụy Như Kon T, Thanh X Hà Nội). S giao cho H cầm các giấy tơ của anh C1 và chứng minh nhân dân đã làm gia đến Công ty tài chính Mcredit của Ngân hàng MB Bank để ký hợp đồng vay số tiền 10.000.000 đồng, đồng thơi mở 01 tài khoan thuộc ngân hàng MB Bank mang tên Đinh Văn C1. Sau khi ngân hàng MB Bank giai ngân vào tài khoan mang tên Đinh Văn C1, H cầm chứng minh nhân dân gia mang tên anh C1 đến ngân hàng MB Bank đề nghị rut số tiền 10.000.000 đồng rồi mang về đưa cho S.

Số tiền H đưa cho S tư việc cung nhau sử dụng giấy tơ của anh Đinh Văn C1 và chứng minh nhân dân gia mang tên anh C1 lưa đao chiếm đoạt tài san của Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (tại chi nhánh Đông A có địa chi thôn Nghĩa L, xã Uy N, Đông A, Hà Nội) số tiền 6.200.000 đồng, chiếm đoạt của Công ty tài chính Mcredit thuộc Ngân hàng MB Bank (địa chi: Phố Ngụy Như Kon T, Thanh X Hà Nội) số tiền 10.000.000 đồng, chiếm đoạt của Công ty tài chính TNHH Một thành viên Mirae Asset (địa chi: Tầng 4/229, Tây S, Đống Đ, Hà Nội) số tiền 20.000.000 đồng. Tổng số tiền các bị can chiếm đoạt được là 36.200.000 đồng. S cung S1 và H cung nhau sử dụng, tiều xài cá nhân.

Anh Đinh Văn C1 sau khi không liên lạc được với H biết mình đã bị các đối tượng lưa đao chiếm đoạt các giấy tơ của mình. Ngày 12/09/2018, anh C1 đến ngân hàng Vietcombank - chi nhánh Quế V, Bắc Ninh để rut tiền bằng tài khoan 0351000965632 của mình thì phát hiện tài khoan bị mất số tiền 6.200.000 đồng. Nhân viên ngân hàng tiến hành kiểm tra tài khoan của anh C1 xác định ngày 06 và 10/9/2018 có 03 giao dịch không phai do anh C1 thực hiện tại Ngân hàng Vietcombank - Chi nhánh Đông A. Ngân hàng Vietcombank - chi nhánh Quế V, Bắc Ninh tiến hành thông báo S việc trên cho Ngân hàng Vietcombank - Chi nhánh Đông A biết. Ngày 21/9/2018, ông Đô Hữu H2 - Phó trưởng phòng dịch vụ khách hàng Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Đông A đến Công an Huyện Đông A trình báo S việc.

Vật chứng đã tạm giữ:

- Tạm giữ của Đô Quốc S:

+ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, màu đỏ, lắp sim số: 0963383307.

+ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A20, màu xanh, số Imei 1: 358587103790014, số Imei 2: 35858810379001.

- Tạm giữ của Đô Quốc S1: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy S7 màu vàng, lắp sim số: 0983994535.

Quá trình điều tra, Đô Quốc S khai nhận gửi Hoàng Văn C (SN: 1995, HKTT: xóm 6 thông Ngọc T, xã Thăng L, Huyện Nông C, tinh Thanh Hóa) một số giấy tơ, tài liệu. Cơ quan Canh sát điều tra tiến hành làm việc với anh Hoàng Văn C, anh Chung khai nhận và tự nguyện giao nộp tại phòng trọ của anh Chung địa chi số 66, ngõ 2, Nguyên X, Minh K, Bắc Tư L, Hà Nội các đồ vật, tài liệu bao gồm:

+ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy A71, màu đen, số Imei: 353408118829405; 01 sim số thuê bao 0906286336.

+ 01 hộp giấy vỏ màu xanh in chữ “copy papa” bên trong chứa các 15 Chứng minh nhân dân mang tên Hứa Văn T, Trần Quốc H3 , Dương Sơn L2, Huynh Ngọc Hồng T1, Lê Văn H4, Đinh Quốc T2, Trang Công H5, Lò Văn T3 Lê Văn H6, Tống Ngọc S3, Đồng Khắc H7, Vũ Hoài T4, Nguyễn Văn T5, Phung Vĩnh N, Võ Thị Ánh H8; 02 Căn cước công dân mang tên Trần Thị Kim P và Hoàng Văn C; 02 Giấy chứng nhận đăng ký xe moto, xe máy mang tên Trang Công H9, Hà Thị Thu H10; 02 Giấy phép lái xe số Z217836 mang tên Quách Thị T6, số 791148386955 mang tên Dương Thị H11.

Ngày 04/10/2018, Cơ quan Canh sát điều tra – Công an Huyện Đông A quyết định trưng cầu giám định dấu đương vân đối với dấu vân tay trên ban photo Giấy chứng minh thư của anh Đinh Văn C1 tại Viện khoa học hình S - Bộ Công an. Tại ban Kết luận giám định số 5500/C09(P3) ngày 26/10/2018 của Viện khoa học hình S - Bộ Công an kết luận: Dấu vân tay ký hiệu số 01 và số 02 không phai do hai ngón tay của ngươi có in dấu vân tay ở ô ngón trỏ trái, ngón trỏ phai trong Giấy chứng minh nhân dân ghi tên Đinh Văn C1, sinh năm: 1997; Nơi ĐKHKTT: Nhân H, Quế V, Bắc Ninh ngân hàng Vietcombank chi nhánh Đông A, Hà Nội ghi “Ban photocopy ban gốc chứng minh nhân dân của anh Đinh Văn C1” để lại.

Ngày 14/5/2021, Cơ quan Canh sát điều tra - Công an Huyện Đông A tiến hành trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết của anh Đinh Văn C1 và chữ ký chữ viết trong các hồ sơ vay tiền tại các Công ty tài chính Mcredit, Mirae Asset và giấy rut tiền tại Ngân hàng Vietcombank chi nhánh Đông A tại Phòng Ky thuật Hình sự – Công an thành phố Hà Nội. Tại ban Kết luận giám định số 4612/KLGĐ- PC09-Đ3 ngày 11/6/2021 của Phòng Ky thuật Hình sự – Công an thành phố Hà Nội kết luận: chữ ký dạng chữ viết “C1”, chữ viết dòng họ tên Đinh Văn C1 (dưới chữ ký) trên các mẫu cần giám định; chữ ký dạng chữ viết “C1”, chữ viết dòng họ tên Đinh Văn C1 (bên phai chữ ký) mục “Chữ ký của Bên mua bao hiểm/Ngươi được bao hiểm” trên mẫu cần giám định; Chữ viết phần nội dung trên các mẫu cần giám định với chữ viết đứng tên Đinh Văn C1 trên mẫu so sánh không phải là chữ do cùng một người viết ra.

Ngày 26/4/2021, Cơ quan Canh sát điều tra – Công an Huyện Đông A Quyết định trưng cầu giám định Phòng Ky thuật Hình sự – Công an thành phố Hà Nội giám định 15 Giấy chứng minh nhân dân, 02 Căn cước công dân, 02 Giấy chứng nhận đăng ký xe moto, xe máy; 02 Giấy phép lái xe tạm giữ của anh Hoàng Văn C.

Tại ban Kết luận giám định số 4575/KLGĐ-PC09-Đ3 ngày 10/6/2021 của Phòng Ky thuật Hình sự – Công an thành phố Hà Nội kết luận:

- 07 Giấy chứng minh nhân dân gồm: CMND số 082270129 mang tên Hứa Văn T (SN 26/6/1996, Nơi ĐKHK thương tru: Song G, Văn Q, Lạng Sơn) cấp ngày 13/6/2011; CMND số 040691536 mang tên Vũ Hoài T4 (SN 07/9/2002, Nơi ĐKHK thương tru: Thị trấn Mương C, Mương C, Điện Biên) cấp ngày 15/10/2019; CMND số 012585469 mang tên Dương Sơn L2 (SN 6/11/1989, Nơi ĐKHK thương tru: Số 29 ngõ 307 Giang V, Đống Đ, Hà Nội) cấp ngày 24/7/2012, CMND số 023113838 mang tên Huynh Ngọc Hồng T1 (SN 21/3/1978, Nơi ĐKHK thương tru: 267/54 Đoàn Văn B, Phương 13, Quận 4, TP Hồ Chí Minh) cấp ngày 22/8/2012; CMND số 113263019 mang tên Đinh Quốc T2 (SN 5/4/1985, Nơi ĐKHK thương tru: Xóm Q, Phu M, Ky S, Hòa Bình) cấp ngày 4/7/2017; CMND số 125762559 mang tên Nguyễn Văn T5 (SN 5/6/1998, Nơi ĐKHK thương tru: Đông X, Đông T, Yên P, Bắc Ninh) cấp ngày 17/12/2019; CMND số 121683704 mang tên Trang Công H5 (SN 13/4/1989, Nơi ĐKHK thương tru: Đại H, Tân Y, Bắc Giang) có dấu vết bóc tách ảnh cũ, thay ảnh mới. Hình dấu, chữ ký Phòng KTHS – CATP Hà Nội không có mẫu nên không tiến hành giám định.

- 04 Giấy chứng minh nhân dân gồm: CMND số 162616009 mang tên Lê văn H6 (SN 23/8/1983, Nơi ĐKHK thương tru: Yên T, Ý Y, Nam Định) cấp ngày 02/2/2013; CMND số 174552260 mang tên Lê Văn H2 (SN 01/3/1994, Nơi ĐKHK thương tru: Hoằng P, Hoằng H, Thanh Hóa) cấp ngày 28/9/2015; CMND số 121404925 mang tên Đồng Khắc H7 (SN 23/3/1983, Nơi ĐKHK thương tru: Tam D, Lục N, Bắc Giang) ngày 13/4/2012; CMND số 172689566 mang tên Tống Ngọc S3 (SN 10/10/1986, Nơi ĐKHK thương tru: Quang L, Hậu L, Thanh Hóa) có dấu vết bóc tách ảnh. Hình dấu, chữ ký hiện phòng KTHS – CATP Hà Nội không có mẫu lưu nên không tiến hành giám định.

- 03 Giấy chứng minh nhân dân gồm: CMND số 151832403 mang tên Trần Quốc H3 (SN 6/3/1987, Nơi ĐKHK thương tru: An M, Quynh P, Thái Bình) cấp ngày 01/10/2015; CMND số 050420734 mang tên Lò Văn T3 (SN 10/5/1982, Nơi ĐKHK thương tru: Mương B, Thuận C, Sơn La) cấp ngày 01/10/2019; CMND mang tên Phung Vĩnh N (SN 17/4/1989, Nơi ĐKHK thương tru: 29 Hàng K, Hà Nội) cấp ngày 25/2/2003 là Giấy chứng minh nhân dân giả.

- Chứng nhận đăng ký xe moto, xe máy số 011565; tên chủ xe Trang Công H5, địa chi Đông N, Đại H, Tân Y, Bắc Giang; nhãn hiệu HONDA; Màu sơn: Bạc đen; số máy 0017015; số khung: 016919; BKS 98D1 – 615.47, cấp ngày 11/12/2017 là chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy giả.

- Giấy phép lái xe số Z217938 mang tên Quách Thị T6 (SN 1985, Nơi cư tru: 24/1 Mạc Đinh C, P4, Đà L, Lâm Đồng; cấp ngày 20/4/2006 có dấu vết bóc tách ảnh cũ thay ảnh mới. Hình dấu, chữ ký hiện Phòng KTHS – CATP Hà Nội không có mẫu lưu nên không tiến hành giám định.

- Giấy chứng minh nhân dân mang tên Võ Thị Ánh H8 (SN 31/10/1977; Nguyên quán: Hậu Giang; Nơi ĐKHK thương tru: 271/7/1 Hoàng Văn T, P2, TB, TP. Hồ Chí Minh, ngày cấp 12/4/2010 không phát hiện thấy dấu vết bóc tách, thay ảnh. Hình dấu, chữ ký hiện phòng KTHS – CATP Hà Nội không có mẫu lưu nên không tiến hành giám định.

- Chứng nhận đăng ký đăng ký moto, xe máy số 032727 mang tên Hà Thị Thu H7 Địa chủ 76 Hạ Đoạn 1, Đ/Hai 2, HA, HP; nhãn hiệu Honda; màu sơn đen bạc, số máy 0034190; số khung 034155; BKS 15B1 – 456.90 cấp ngày 27/6/2012 không phát hiện dấu vết tẩy xóa, sửa chữa. Hình dấu, chữ ký hiện Phòng KTHS – CATP Hà Nội không có mẫu lưu nên không tiến hành giám định.

- 02 Căn cước công dân gồm: CCCD số 031187000054 mang tên Trần Thị Kim P (SN 4/12/1987, Nơi ĐKHK thương tru: Số 13/267 Hàng K, Hàng K, Lê C, Hai Phòng) cấp ngày 22/12/2017 và CCCD số 038095004370 mang tên Hoàng Văn C (SN 17/7/1995, tru tại Thăng L, Nông C, Thanh Hóa) cấp ngày 12/5/2017 là căn cước công dân thật.

- Giấy phép lái xe số 791148386955 mang tên Dương Thị H11 (SN 5/2/1996, Nơi ĐKHK thương tru: Khôi K, Đại T, Thái Nguyên) cấp ngày 3/4/2014 là giấy phép lái xe thật.

Tại Cơ quan điều tra, Đô Quốc S, Đô Quốc S1, Hoàng Văn H khai nhận hành vi phạm tội phu hợp với tài liệu có trong hồ sơ. Ngoài ra, các bị cáo khai sử dụng một số giấy tơ gia để đăng ký mua hàng tra góp gồm: 01 điện thoại Samsung A8 màu trắng tại cơ sở Thế giới di động trên đương Cao L, Uy N, Đông A, 01 điện thoại Samsung A8 màu trắng tại Thế giới di động địa chi Vân T, Vân N, Đông A, Hà Nội, 01 điện thoại Samsung A8 màu trắng với giá 9.600.000 đồng tại Thế giới di động địa chi Cổ Đ, Hai B, Đông A, Hà Nội, 01 tivi tại cửa hàng Điện máy xanh địa chi: phương Cầu D, Bắc Tư L, Hà Nội, 01 điện thoại iphone X tại cửa hàng điện thoại cũ đầu đương Hồ Tung M, Mai D, Cầu G, Hà Nội, 01 tivi sony 48inch tại Điện máy xanh ở Phố Y, Tiền P, Mê L, 01 điện thoại tại cửa hàng mua bán điện thoại cũ mới trên đương Kim Đ. Những tài san trên, Đô Quốc S khai nhận đăng ký mua trên mạng internet, nếu hồ sơ được duyệt S sẽ liên hệ cho một ngươi trên facebook là “Tung Nguyễn” đến thu mua ngay sau khi bị cáo H đến làm thủ tục nhận hàng ở các cơ sở nêu trên. Quá trình điều tra, Cơ quan Canh sát điều tra – Công an Huyện Đông A đã tiến hành xác minh tại cửa hàng điện thoại đầu đương Hồ Tung M và cửa hàng điện thoại trên đương Kim Đ, phương Giáp B nhưng không xác định được cửa hàng đã bán hàng tra góp cho các bị cáo. Cơ quan Canh sát điều tra – Công an Huyện Đông A đã gửi Công văn đề nghị phối hợp đến Công ty Cổ phần Thế giới di động yêu cầu cung cấp thông tin về những đối tượng đến mua hàng tra góp; Cơ quan điều tra đã tách rut tài liệu để làm rõ xử lý. Đến nay, Công ty Cổ phần Thế giới di động có Công văn tra lơi về việc không xác định được các đối tượng đã đến mua hàng tại các cơ sở nêu trên do vậy không có căn cứ xử lý đối với các bị cáo về hành vi Lưa đao chiếm đoạt tài san tại Công ty Cổ phần Thế giới di động và các cửa hàng điện thoại theo các bị cáo khai.

Đối với Đô Quốc S khai nhận số Chứng minh nhân dân, Căn cước công dân, Giấy phép lái xe, Giấy chứng nhận đăng ký xe moto, xe máy tạm giữ của Chung là do những ngươi môi giới vay tiền cH ển cho S trước đây để làm thủ tục vay tiền nhưng kiểm tra không đủ điều kiện làm thủ tục nên S không làm và bỏ lại, ngoài ra, S khai nhận đã thay anh và dấu vân tay Chứng minh nhân dân của anh Đinh Văn C1 tuy nhiên quá trình điều tra không thu được Chứng minh nhân dân của anh C1 mà Sự đã làm gia do vậy không đủ căn cứ xử lý hành vi Làm gia con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức đối với Đô Quốc S.

Đối với 03 Giấy chứng minh nhân dân và 01 Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy là gia; 11 Giấy chứng minh nhân dân và 01 giấy phép lái xe có dấu vết bóc tách anh cũ, thay anh mới có dấu hiệu tội phạm Làm gia con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; Cơ quan Canh sát điều tra – Công an Huyện Đông A đã tách rut tài liệu, khởi tố vụ án Làm gia con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức để điều tra bằng một vụ án riêng.

Ngày 22/6/2021, Cơ quan Canh sát điều tra – Công an Huyện Đông A ban hành Ban kết luận điều tra vụ án hình S đề nghị truy tố số 135.

Tuy nhiên trong quá trình truy tố đối với các bị cáo, Viện kiểm sát nhân dân H ện Đông A tiến hành phuc cung bị cáo Đô Quốc S khai nhận: trong hộp giấy vỏ màu xanh in chữ “copy papa” gồm các tài liệu, giấy tơ gửi tại phòng trọ của Hoàng Văn C có 02 Chứng minh nhân dân mang tên Trần Quốc Huy và Dương Sơn L2 là do bị cáo làm gia vào khoang năm 2020 và 2021.

Ngày 19/7/2021, Viện kiểm sát nhân dân Huyện Đông A quyết định tra hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung số 12/QĐ-VKS-ĐA yêu cầu Cơ quan Canh sát điều tra – Công an Huyện Đông A làm rõ và xử lý đối với bị cáo Đô Quốc S và các đối tượng liên quan về hành vi Làm gia tài liệu của cơ quan, tổ chức theo Điều 341 Bộ luật hình S năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Quá trình điều tra bổ sung, đấu tranh với Sự và Chung khai nhận:

Trong tháng 02/2021, do có nhu cầu vay tiền tại các ứng dụng của Trung Quốc trên mạng internet, anh Hoàng Văn C nhơ S làm Chứng minh nhân dân gia để thực hiện vay tiền. S đồng ý và yêu cầu anh Chung gửi 02 anh chân dung của mình để S làm Chứng minh nhân dân gia cho Chung. Phương thức, thủ đoạn làm gia của Sự như sau: S lấy Chứng minh nhân dân mang tên Hứa Văn T có sẵn do những ngươi môi giới vay tiền trên mạng internet trước đó đã cH ển cho Sự rồi bóc mép chứng minh nhân dân, thay anh bên trong bằng anh của Chung rồi ép plastic lại. Quá trình Sự làm gia chứng minh nhân dân, anh Chung không biết phương thức S làm gia. S sử dụng sim điện thoại (không nhớ số) đăng ký tài khoan zalo mang tên “Hoàng Anh” liên lạc với nick zalo “Thu Thao” trên mạng xã hội zalo đăt làm gia cho Chung 01 chứng minh nhân dân mang tên Trần Quốc H3 . Sau khi nhận chứng minh nhân dân do S làm gia, Chung kiểm tra ứng dụng vay tiền nhưng ứng dụng đã bị sập nên Chung bỏ ý định sử dụng 02 giấy chứng minh nhân dân gia để vay tiền và cho vào trong thung tài liệu của S gửi tại nhà Chung.

Ngoài ra, quá trình kiểm tra tài liệu thu giữ của S tại nhà Hoàng Văn C phát hiện 01 Chứng minh nhân dân mang tên Dương Sơn L2 có dán anh chân dung của S do S tự làm tư Chứng minh nhân dân có sẵn do ngươi môi giới vay tiền cH ển đến cho bị cáo S. S khai nhận, S làm gia bằng cách cắt mép và thay anh chứng minh nhân dân rồi ép plastic lại. Đối với zalo “Thu Thao” và những ngươi môi giới vay tiền Sự khai không biết nhân thân lai lịch, điện thoại không lưu giữ thông tin liên quan; do đó không có căn cứ để làm rõ.

Đối với Hoàng Văn C khai nhận có hành vi đăt làm gia 02 Chứng minh nhân dân nhưng Chung không sử dụng các Chứng minh nhân dân trên. Quá trình điều tra xác định Chung không biết S làm gia bằng phương pháp nào, tại đâu đối với các Chứng minh thư nhân dân trên. Chung chưa sử dụng để vay tiền trên mạng xã hội, do đó hậu qua nguy hiểm cho xã hội chưa xay ra trên thực tế. Vì vậy xét tính chất mức độ và hậu qua trong hành vi của Hoàng Văn C chưa đến mức phai xử lý hình S về hành vi Làm gia tài liệu của cơ quan, tổ chức. Ngoài ra, Chung khai nhận có hành vi gian dối mục đích để chiếm đoạt số tiền 30.000.000 đồng của gươi Chung không nhớ họ tên tại Bưu điện Huyện Quốc Oai, Hà Nội nhưng chưa thực hiện được; quá trình điều tra ngoài lơi khai của Chung không thu giữ được tài liệu nào khác nên không có căn cứ để xử lý đối với Chung về hành vi lưa đao chiếm đoạt tài san.

Đối với các giấy tơ gồm: Chứng minh nhân dân mang tên Vũ Hoài T4, Huynh Ngọc Hồng T1, Đinh Quốc Thưởng; Nguyễn Văn T5, Trang Công H5, Lê văn H6, Lê Văn H2, Đồng Khắc H7 , Tống Ngọc S3, Lò Văn T3, Phung Vĩnh N, Võ Thị Ánh H8; Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Trang Công H5; Giấy phép lái xe số mang tên Quách Thị T6, Hà Thị Thu Huyền, Dương Thị H11; Căn cước công dân mang tên Trần Thị Kim P, S khai nhận những giấy tơ này đều do những ngươi môi giới cH ển tiền gửi cho S trước đây tư năm 2017 qua cH ển phát nhanh để làm thủ tục vay tiền. S kiểm tra những ngươi này trên hệ thống đều không đủ điều kiện vay nên S bỏ vào thung tài liệu thưa và không sử dụng. Các tài liệu gồm: các Chứng minh nhân dân mang tên Vũ Hoài T4, Huynh Ngọc Hồng T1, Đinh Quốc Thưởng; Nguyễn Văn T5, Trang Công H5, Lê văn H6, Lê Văn H2, Đồng Khắc H7 , Tống Ngọc S3, Lò Văn T3, Phung Vĩnh N; Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Trang Công H5; Giấy phép lái xe số mang tên Quách Thị T6 là tài liệu gia, không đủ căn cứ xác định S làm gia; Giấy phép lái xe mang tên Dương Thị H11 là giấy phép lái xe thật tuy nhiên xác minh tại xã Khôi K, Đại T Thái Nguyên không xác định được ngươi có tên Dương Thị H11. Chứng minh nhân dân mang tên Võ Thị Ánh H8 không phát hiện thấy dấu vết bóc tách, thay anh, quá trình xác minh tại địa phương không xác định chị Hồng đi đâu làm gì, Cơ quan Canh sát điều tra – Công an Huyện Đông A tách tài liệu tiếp tục xác minh, xử lý sau.

Đối với Căn cước Công dân mang tên Hoàng Văn C và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy A71, màu đen có số Imei: 353408118829405; 01 sim số thuê bao 0906286336 tạm giữ của Chung, không liên quan đến vụ án. Ngày 21/6/2021, Cơ quan Canh sát điều tra – Công an Huyện Đông A Quyết định xử lý vật chứng trao tra cho anh Hoàng Văn C.

Đối với Chứng nhận đăng ký moto, xe máy số 032727 mang tên Hà Thị Thu H7Căn cước công dân mang tên Trần Thị Kim P là giấy tơ thật của chị Huyền và chị Phượng bị mất. Ngày 15/9/2021, Cơ quan Canh sát điều tra – Công an Huyện Đông A đã trao tra cho chị Phượng và chị Huyền.

Đối với 03 Chứng minh nhân dân mang tên Trần Quốc Huy , Dương Sơn L2 và Hứa Văn T tạm giữ của anh Hoàng Văn C; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, màu đỏ, lắp sim số: 0963383307; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A20, màu xanh, số Imei 1: 358587103790014, số Imei 2: 35858810379001 tạm giữ của Đô Quốc S; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy S7 màu vàng, lắp sim số: 0983994535 tạm giữ của Đô Quốc S1 là vật chứng của vụ án cH ển Tòa án nhân dân Huyện Đông A giai quyết theo thẩm quyền.

* Về phần dân S:

- Công ty tài chính Mcredit đề nghị các bị cáo bồi thương số tiền 10.550.000 đồng (bao gồm 10.000.000 đồng tiền gốc vay và 550.000 đồng tiền bao hiểm khoan vay).

- Công ty Mirae Asset đề nghị các bị cáo bồi thương số tiền 20.000.000 đồng.

- Ngân hàng Vietcombank chi nhánh Đông A đề nghị các bị cáo bồi thương số tiền 6.200.000 đồng.

- Anh Đinh Văn C1 không có yêu cầu đề nghị gì đối với số giấy tơ bị chiếm đoạt.

Tổng số tiền các bị cáo phai bồi thương cho các bị hại là 36.750.000 đồng.

Ngày 09/6/2021, gia đình các bị cáo Đô Quốc S, Đô Quốc S1 và Hoàng Văn H đã bồi thương số tiền 36.750.000 đồng cho các công ty tài chính Mcredit, Mirae Asset và Ngân hàng Vietcombank chi nhánh Đông A. Sau khi nhận bồi thương, các bị hại không đề nghị bồi thương gì thêm, đề nghị xử lý hành vi của các bị cáo theo quy định pháp luật.

Tại ban cáo trạng số 180/CT-VKS-ĐA ngày 07/10/2021, Viện kiểm sát nhân dân Huyện Đông A, Thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Đô Quốc S về tội “Lưa đao chiếm đoạt tài san” và “Làm gia tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo khoan 1 Điều 174 và điểm c khoan 2 Điều 341 Bộ luật Hình S; truy tố bị cáo Đô Quốc S1 và Hoàng Văn H về tội “Lưa đao chiếm đoạt tài san” theo khoan 1 Điều 174 Bộ luật Hình S.

Tại phiên toà:

+ Sau khi phân tích, đánh giá các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lơi khai của các bị cáo, đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Đô Quốc S, Đô Quốc S1 và Hoàng Văn H theo tội danh và điều luật đã viện dẫn theo ban Cáo trạng số 180/CT-VKS-ĐA ngày 07/10/2021, đồng thơi đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm c khoan 2 Điều 341; điểm s khoan 1 Điều 51 Bộ luật hình S.

- Áp dụng khoan 1 Điều 174; điểm g khoan 1 Điều 52; điểm b, s khoan 1 Điều 51 Bộ luật hình S.

- Áp dụng Điều 55; Điều 38 Bộ luật hình S.

Xử phạt: Đô Quốc S tư 24 tháng tu đến 30 tháng tu về tội “Lưa đao chiếm đoạt tài san”, tư 30 tháng tu đến 36 tháng tu về tội “Làm gia tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt chung ca hai tội là tư 54 tháng tu đến 66 tháng tu.

Áp dụng khoan 1 Điều 174; điểm g khoan 1 Điều 52; điểm b, s khoan 1, khoan 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình S.

Xử phạt: Hoàng Văn H tư 18 tháng tu đến 24 tháng tu.

Áp dụng khoan 1 Điều 174; điểm g khoan 1 Điều 52; điểm b,s khoan 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình S.

Xử phạt: Đô Quốc S1 tư 18 tháng tu đến 24 tháng tu.

Không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, khoan 5 Điều 174 Bộ luật hình S, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình S:

- Tịch thu tiêu hủy 03 chứng minh thư nhân dân mang tên Trần Quốc H3 , Dương Sơn L2 và Hứa Văn T tạm giữ của anh Hoàng Văn C.

- Tịch thu sung quy nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone7 Plus màu đỏ; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A20 màu xanh tạm giữ của Đô Quốc S; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy S7 màu vàng tạm giữ của Đô Quốc S1.

- Tịch thu tiêu hủy 02 thẻ sim số 0963383307 và số 0983994535.

Về bồi thương dân S: Đã giai quyết xong trong quá trình điều tra nên không xem xét giai quyết.

Các bị cáo phai chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp

luật.

+ Tại phiên tòa các bị cáo Đô Quốc S, Đô Quốc S1 và Hoàng Văn H thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội đung như ban Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử xem xét giam nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Huyện Đông A, Viện kiểm sát nhân dân Huyện Đông A, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đung về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình S. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngươi tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngươi tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lơi khai nhận tội của các bị cáo Đô Quốc S, Đô Quốc S1, Hoàng Văn H tại phiên tòa hôm nay phu hợp với lơi khai tại cơ quan điều tra, biên ban thu giữ vật chứng, ban kết luận giám định của Phòng ky thuật hình S (PC09) - Công an Thành phố Hà Nội và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung ban Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử thấy đủ cơ sở kết luận: Trong tháng 8 và tháng 9 năm 2018; các bị cáo Đô Quốc S, Đô Quốc S1 và Hoàng Văn H đã có hành vi sử dụng chứng minh nhân dân gia của anh Đinh Văn C1 lưa đao chiếm đoạt tài san của Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Đông A (địa chi thôn Nghĩa L, xã Uy N, Đông A, Hà Nội) số tiền 6.200.000 đồng, chiếm đoạt tài san của Công ty tài chính Mcredit thuộc Ngân hàng MB Bank (địa chi: Phố Ngụy Như Kon T, Thanh X, Hà Nội) số tiền 10.000.000 đồng, chiếm đoạt Công ty tài chính TNHH MTV Mirae Asset (địa chi: Tầng 4/229, Tây S, Đống Đ, Hà Nội) số tiền 20.000.000 đồng. Trong tháng 02/2021, Đô Quốc S còn có hành vi làm gia 03 Chứng minh nhân dân mang tên Trần Quốc Huy , Dương Sơn L2 và Hứa Văn T. Do vậy hành vi của các bị cáo Đô Quốc S1 và Hoàng Văn H đã cấu thành tội “Lưa đao chiếm đoạt tài san”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoan 1 Điều 174 Bộ luật hình S. Hành vi của bị cáo Đô Quốc S đã cấu thành tội “Lưa đao chiếm đoạt tài san” và “Làm gia tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoan 2 Điều 341 Bộ luật Hình S. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Huyện Đông A đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ và phu hợp qui định của pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự quan lý hành chính của Nhà nước, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài san hợp pháp của ngươi khác, gây anh hưởng xấu tới tình hình trật tự trị an, đến các hoạt động của các cơ quan nhà nước và các tổ chức. Các bị cáo đều là ngươi đã trưởng thành, có đầy đủ nhận thức. Bị cáo S nhận thức được hành vi làm gia giấy tơ, tài liệu của cơ quan, tổ chức và lưa đao chiếm đoạt tài san là vi phạm pháp luật, các bị cáo S1 và H cũng nhận thức được hành vi lưa đao chiếm đoạt tài san là vi phạm pháp luật, nhưng do cần tiền tiêu xài, lươi lao động, nên các bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của các bị cáo do lôi cố ý trực tiếp. Do đó cần phai xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật mới có tác dụng giáo dục và phòng ngưa chung, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm tại địa phương, đồng thơi thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật. Tuy nhiên khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét đến nhân thân, vị trí, vai trò của tưng bị cáo.

Về nhân thân và tình tiết tăng năng, giam nhẹ trách nhiệm hình S đối với các bị cáo:

- Về nhân thân của các bị cáo: Bị cáo S và H chưa có tiền án tiền S, lần đầu phạm tội; Bị cáo S1 đã có 1 tiền án ngày 22/7/2019 phạm tội, ngày 11/11/2019 Tòa án nhân dân Thành phố Thái Nguyên, tinh Thái Nguyễn xử phạt 12 tháng tu nhưng cho hưởng án treo, thơi hạn thử thách là 24 tháng về tội “lưa đao chiếm đoạt tài san”, tiền án này của bị cáo S1 chưa được xóa án tích, nhưng do bị cáo thực hiện hành vi này sau ngày bị cáo phạm tội của ban án lần này, do vậy nên không tính là tái phạm. Nhận thấy bị cáo đã có một tiền án về cung loại tội, măc du tiền án này không tính là tái phạm nhưng xác định bị cáo có nhân thân xấu.

- Tình tiết tăng năng: Đối với hành vi “Lưa đao chiếm đoạt tài san” các bị cáo đều thực hiện trên 02 lần, nên các bị cáo đều bị áp dụng tình tiết tăng năng trách nhiệm hình S theo qui định tại điểm g khoan 1 Điều 52 Bộ luật hình S.

- Tình tiết giam nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cai; các bị cáo đã tự nguyện tác động nhơ gia đình các bị cáo bồi thương thiệt hại cho ngươi bị hại, nên các bị cáo đều được hưởng tình tiêt giam nhẹ trách nhiệm hình S qui định tại điểm b, s khoan 1 Điều 51 Bộ luật hình S. Bị cáo Hoàng Văn H có ông nội được tăng Huân C1 kháng chiến hạng nhì và hạng ba, nên bị cáo được hưởng tình tiết giam nhẹ trách nhiệm hình S quy định tại khoan 2 Điều 51 Bộ luật hình S.

Về vị trí, vai trò của tưng bị cáo: Bị cáo Đô Quốc S tham gia với vai trò chính trong vụ án, bị cáo là ngươi khởi xướng, là ngươi trực tiếp làm gia tài liệu và chi đạo S1 và H thực hiện hành vi lưa đao chiếm đoạt tài san, nên mức hình phạt của bị cáo S cao hơn các bị cáo khác. Bị cáo Đô Quốc S1 và bị cáo Hoàng Văn H tham gia trong vụ án với vai trò đồng phạm, S1 có vai trò giup sức, H có vai trò thực hiện tích cực hành vi lưa đao chiếm đoạt tài san, nên các bị cáo đều phai chịu một mức hình phạt tương xứng với vai trò phạm tội của các bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo đều không có công việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

Đối với hành vi các bị cáo khai sử dụng một số giấy tơ gia để đăng ký mua hàng tra góp bao gồm điện thoại di động, ti vi tại các cửa hàng tại cơ sở Thế giới di động, cửa hàng Điện máy xanh và một số cửa hàng điện thoại cũ trên địa bàn phương Mai D, quận Cầu G và đương Kim Đ. Quá trình điều tra, Cơ quan Canh sát điều tra - Công an Huyện Đông A đã tiến hành xác minh tại cửa hàng điện thoại đương Hồ Tung M, phương Mai D, quận Cầu G và các cửa hàng điện thoại trên đương Kim Đ, nhưng không xác định được cửa hàng đã bán tra góp cho các bị cáo. Xác minh tại Công ty Cổ phần Thế giới di động không xác định được các đối tượng đã đến mua hàng tại các cơ sở nêu trên. Do vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý đối với các bị cáo về hành vi lưa đao chiếm đoạt tài san tại Công ty Cổ phần Thế giới di động và các cửa hàng điện thoại theo các bị cáo đã khai, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Hoàng Văn C khai nhận có đăt làm gia 02 Chứng minh thư nhân dân nhưng Chung không sử dụng các Chứng minh thư nhân dân trên. Quá trình điều tra xác định Chung không biết S làm gia các Chứng minh thư nhân dân bằng phương pháp nào, tại đâu, Chung chưa sử dụng để vay tiền trên mạng xã hội, do đó chưa có hậu qua xay xa. Vì vậy xét tính chất mức độ và hậu qua trong hành vi của Hoàng Văn C chưa đến mức phai xử lý hình S về hành vi Làm gia tài liệu của cơ quan, tổ chức. Ngoài ra Chung còn khai nhận có hành vi gian dối mục đích chiếm đoạt số tiền 30.000.000 đồng của ngươi Chung không nhớ họ tên tại Bưu điện Huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội nhưng chưa thực hiện được. Xác minh tại Bưu điện Quốc Oai không có thông tin về giao dịch của Chung tại Bưu điện Quốc Oai. Quá trình điều tra ngoài lơi khai của Chung không thu giữ được tài liệu nào khác, nên không có căn cứ để xử lý đối với Chung về hành vi Lưa đao chiếm đoạt tài san. Do vậy nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Zalo “Thu Thao” và những ngươi môi giới vay tiền S khai không biết nhân thân lai lịch, điện thoại không lưu giữ thông tin liên quan, do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ để làm rõ, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với các giấy tơ gồm: Chứng minh nhân dân mang tên Vũ Hoài T4, Huynh Ngọc Hồng T1, Đinh Quốc Thưởng; Nguyễn Văn T5, Trang Công H5, Lê văn H6, Lê Văn H2, Đồng Khắc H7 , Tống Ngọc S3, Lò Văn T3, Phung Vĩnh N, Võ Thị Ánh H8; Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Trang Công H5; Giấy phép lái xe số mang tên Quách Thị T6, Hà Thị Thu Huyền, Dương Thị H11; Căn cước công dân mang tên Trần Thị Kim P, S khai nhận những giấy tơ này đều do những ngươi môi giới cH ển tiền gửi cho S trước đây tư năm 2017 qua cH ển phát nhanh để làm thủ tục vay tiền. S kiểm tra những ngươi này trên hệ thống đều không đủ điều kiện vay nên S bỏ vào thung tài liệu thưa và không sử dụng. Các tài liệu gồm: các Chứng minh nhân dân mang tên Vũ Hoài T4, Huynh Ngọc Hồng T1, Đinh Quốc Thưởng; Nguyễn Văn T5, Trang Công H5, Lê văn H6, Lê Văn H2, Đồng Khắc H7 , Tống Ngọc S3, Lò Văn T3, Phung Vĩnh N; Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Trang Công H5; Giấy phép lái xe số mang tên Quách Thị T6 là tài liệu gia, không đủ căn cứ xác định S làm gia; Giấy phép lái xe mang tên Dương Thị H11 là giấy phép lái xe thật tuy nhiên xác minh tại xã Khôi K, Huyện Đại T, tinh Thái Nguyên không xác định được ngươi có tên Dương Thị H11. Chứng minh nhân dân mang tên Võ Thị Ánh H8 không phát hiện thấy dấu vết bóc tách, thay anh, quá trình xác minh tại địa phương không xác định chị Hồng đi đâu làm gì, Cơ quan Canh sát điều tra – Công an Huyện Đông A tách tài liệu tiếp tục xác minh, xử lý sau. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Căn cước công dân mang tên Hoàng Văn C và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy A71 màu đen có số Imei: 353408118829405; 01 số sim thuê bao 0906286336 tạm giữ của Chung, không liên quan đến vụ án. Ngày 21/6/2021, Cơ quan canh sát điều tra - Công an Huyện Đông A quyết định xử lý vật chứng trao tra cho anh Hoàng Văn C. Do vậy nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Chứng nhận đăng ký moto, xe máy số 032727 mang tên Hà Thị Thu H7Căn cước công dân mang tên Trần Thị Kim P, là giấy tơ thật của chị Huyền và chị Phượng bị mất. Ngày 15/9/2021 Cơ quan canh sát điều tra - Công an Huyện Đông A đã trao tra cho chị Phượng và chị Huyền. Do vậy nên Hội đồng xét xử không xem xét giai quyết.

Đối với những vật chứng thu giữ của các bị cáo gồm:

- 03 Chứng minh thư nhân dân mang tên Trần Quốc H3 , Dương Sơn L2 và Hứa Văn T tạm giữ của anh Hoàng Văn C là chứng cứ của vụ án, được lưu giữ tại hồ sơ vụ án.

- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone7 Plus màu đỏ; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy A20 màu xanh, số Imei 1: 358587103790014, số Imei 2: 35858810379001 tạm giữ của Đô Quốc S ; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy S7 màu vàng, tạm giữ của Đô Quốc S1. Xét những vật chứng thu giữ này các bị cáo sử dụng để liên lạc, không thực hiện hành vi phạm tội, đây là tài san riêng của các bị cáo. Áp dụng khoan 5 Điều 174 Bộ luật hình S tịch thu một phần tài san của các bị cáo, do vậy nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

- 02 chiếc thẻ sim điện thoại số 0963383307 và số 0983994535 không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.

Về bồi thương dân S:

Tổng số tiền các bị hại yêu cầu các bị cáo phai bồi thương là 36.750.000 đồng.

Ngày 09/6/2021, các bị cáo Đô Quốc S, Đô Quốc S1 và Hoàng Văn H đã bồi thương đủ số tiền 36.750.000 đồng cho Công ty tài chính Mcredit, Công ty Mirae Asset và Ngân hàng Vietcombank - Chi nhánh Đông A. Sau khi nhận bồi thương, các bị hại không đề nghị bồi thương gì thêm.

Xét thấy các bị cáo đã tác động gia đình các bị cáo bồi thương đủ số tiền cho các ngươi bị hại, các ngươi bị hại đã nhận đủ số tiền yêu cầu bồi thương và không có yêu cầu gì thêm. Do vậy nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Anh Đinh Văn C1 không có yêu cầu đề nghị gì đối với số giấy tơ bị chiếm đoạt, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Môi bị cáo phai nộp 200.000 đồng án phí hình S sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, ngươi bị hại, ngươi có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Đô Quốc S phạm tội “Làm gia tài liệu của Cơ quan, tổ chức” và “Lưa đao chiếm đoạt tài san”.

Các bị cáo Đô Quốc S1 và Hoàng Văn H phạm tội “Lưa đao chiếm đoạt tài san”.

- Áp dụng điểm c khoan 2 Điều 341; khoan 1 Điều 174; điểm g khoan 1 Điều 52 (đối với tội “Lưa đao chiếm đoạt tài san”); điểm b khoan 1 Điều 51 (đối với tội “Lưa đao chiếm đoạt tài san”), điểm s khoan 1 Điều 51; Điều 55, Điều 38 Bộ luật hình S.

Xử phạt: Đỗ Quốc S 28 (Hai mươi tám) tháng tu về tội “Làm gia tài liệu của cơ quan, tổ chức”; 26 (Hai mươi sáu) tháng tu về tội “Lưa đao chiếm đoạt tài san”. Tổng hợp hình phạt chung ca của hai tội là 54 (Năm mươi tư) tháng tu. Thơi hạn tu tính tư ngày 27/3/2021.

- Áp dụng khoan 1 Điều 174; điểm g khoan 1 Điều 52; điểm b, s khoan 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình S.

Xử phạt: Đỗ Quốc S1 26 (Hai mươi sáu) tháng tu về tội “Lưa đao chiếm đoạt tài san”. Thơi hạn tu tính tư ngày 27/3/2021.

- Áp dụng khoan 1 Điều 174; điểm g khoan 1 Điều 52; điểm b, s khoan 1, khoan 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình S.

Xử phạt: Hoàng Văn H 24 (Hai mươi bốn) tháng tu về tội “Lưa đao chiếm đoạt tài san”. Thơi hạn tu tính tư ngày 31/3/2021.

+ Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo.

+ Về bồi thường dân S: Ngươi bị hại đã nhận lại tài san không có yêu cầu gì khác, nên Tòa án không xét.

+ Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47; khoan 5 Điều 174 Bộ luật hình S.

Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình S.

- 03 Chứng minh thư nhân dân mang tên Trần Quốc H3 , Dương Sơn L2 và Hứa Văn T tạm giữ của anh Hoàng Văn C là chứng cứ của vụ án, được lưu giữ tại hồ sơ vụ án.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone7 Plus màu đỏ; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy A20 màu xanh, số Imei 1: 358587103790014, số Imei 2: 35858810379001 tạm giữ của Đô Quốc S; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy S7 màu vàng tạm giữ của Đô Quốc S1.

- Tịch thu tiêu hủy 02 chiếc thẻ sim điện thoại số 0963383307 tạm giữ của Đô Quốc S và số 0983994535 tạm giữ của Đô Quốc S1.

(Số vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân S Huyện Đông A theo biên ban giao nhận vật chứng ngày 08/10/2021).

+ Về án phí:

- Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình S.

- Áp dụng khoan 1 Điều 21; điểm a khoan 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 qui định về mức thu, miễn, giam, thu, nộp, quan lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Điểm 1 mục I phần A - Danh mục án phí, lệ phí Tòa án (Ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016).

Các bị cáo Đô Quốc S, Đô Quốc S1, Hoàng Văn H, môi bị cáo phai nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) án phí hình S sơ thẩm.

+ Về quyền kháng cáo:

- Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình S.

Các bị cáo có quyền kháng cáo ban án trong hạn 15 ngày kể tư ngày tuyên án.

Ngươi bị hại, ngươi có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo ban trong thơi hạn 15 ngày kể tư ngày nhận được tống đạt ban án.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

- VKSND Huyện Đông A;

- VKSND TP. Hà Nội;

- Cơ quan THA Huyện Đông A;

- Công an Huyện Đông A;

- CA X.Bắc L, H.Hiệp H, tỉnh Bắc Giang;

- UBND X.Bắc L, H.Hiệp H, tỉnh Bắc Giang;

Phạm Thị Thu Huyền

- CA X.Đức N, H.Hàm Y, tỉnh Tuyên Quang;

- UBND X.Đức N, H.Hàm Y, tỉnh Tuyên Quang;

- Các bị cáo; Người bị hại;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

- Lưu./.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ