- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC TỈNH CÀ MAU —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:189/2019/HNGĐ - ST Ngày 07 - 11 - 2019 V/v Tranh chấp Ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Thanh Khiết
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Hữu Khánh
Ông Nguyễn Văn Mầm
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Chí Thêm - Thư ký Tòa án
Trong ngày 07 tháng 11 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 345/2019/TLST-HNGĐ, ngày 29 tháng 7 năm 2019 về tranh chấp Ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 352/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Yến Nh, sinh năm 1981 (Có mặt)
Cư trú tại: Ấp GP, xã THĐ, huyện CN, Cà Mau.
- Bị đơn: Anh Trần Văn X, sinh năm 1976 (Vắng mặt)
Cư trú tại: Ấp GP, xã THĐ, huyện CN, Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 29 tháng 7 năm 2019 và tại phiên tòa, chị Phạm Yến Nh trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Trần Văn X kết hôn vào năm 2000 nhưng không có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian, nhưng đến năm 2008 thì phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cải nhau, anh Trần Văn X không chăm lo cho cuộc sống gia đình, sự việc không được tháo gỡ và kéo dài theo thời gian, từ đó mâu thuẫn của vợ chồng ngày càng gay gắt và trầm trọng hơn. Nên chị và anh X đã sống ly thân với nhau từ năm 2008 cho đến nay. Nay chị xét thấy cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc nữa nên yêu cầu xin ly hôn với anh Trần Văn X.
Về con chung: Chị và anh Trần Văn X có 02 người con chung là Trần Văn P, sinh năm 2000 hiện đã trưởng thành có khả năng tự lao động kiếm sống cho bản thân, nên không yêu cầu giải quyết và Trần Huỳnh Đ, sinh ngày 13/01/2004 hiện nay đang sống với anh X. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu giao cháu Huỳnh Đ, sinh ngày 13/01/2004 cho anh X tiếp tục nuôi dưỡng, chị không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị N xác định chị và anh Trần Văn X không có tài sản chung và cũng không nợ ai, cũng không ai nợ vợ chồng. Nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với anh Trần Văn X kể từ khi thụ lý vụ án, mặc dù đã được tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng như Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh Trần Văn X vẫn không đến Tòa án để tham gia tố tụng. Do đó Tòa án nhân dân huyện Cái Nước không tiến hành hòa giải được vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện Cái Nước căn cứ vào Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và triệu tập anh Trần Văn X hợp lệ đến lần thứ hai để đến Tòa án để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng anh Trần Văn X vẫn vắng mặt không lý do và cũng không có bất cứ văn bản nào có ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Yến Nh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Tòa án nhận định:
[1] Tranh chấp giữa chị Phạm Yến Nh và anh Trần Văn X là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình về việc Ly hôn, nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Trần Văn X có địa chỉ tại Ấp GP, xã THĐ, huyện CN, tỉnh Cà Mau. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Nhận định của Tòa án về nội dung tranh chấp của vụ án:
Về hôn nhân: Chị Phạm Yến Nh và anh Trần Văn X kết hôn vào năm 2000 không có đăng ký kết hôn. Nên đây là hôn nhân không hợp pháp, không được pháp luật thừa nhận và bảo vệ theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Trần Văn X đã được Tòa án nhân dân huyện cái Nước, tỉnh Cà Mau triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, do đó Tòa án nhân dân huyện Cái Nước không tiến hành hòa giải được vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện Cái Nước căn cứ vào Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và triệu tập anh Trần Văn X hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng anh Trần Văn X vẫn vắng mặt không lý do. Do đó Tòa án nhân dân huyện Cái Nước căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với anh Trần Văn X.
Hội đồng xét xử xét thấy, chị Phạm Yến Nh và anh Trần Văn X không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vì vậy mối quan hệ hôn nhân giữa Chị N và anh X không có giá trị pháp lý. Tòa án nhân dân huyện Cái Nước căn cứ vào khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Tuyên bố không công nhận chị Phạm Yến Nh và anh Trần Văn X là vợ chồng.
Về con chung: Chị Phạm Yến Nh và anh Trần Văn X 02 người con chung là Trần Văn P, sinh năm 2000 hiện đã trưởng thành có khả năng tự lao động kiếm sống cho bản thân, nên không yêu cầu giải quyết và Trần Huỳnh Đ, sinh ngày 13/01/2004 hiện nay đang sống với anh X. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu giao cho anh X tiếp tục nuôi dưỡng cháu Cháu Đức, chị không phải cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy cháu Cháu Đức hiện đang sống chung với anh X và cháu thuộc trường hợp phải hỏi ý kiến cháu có nguyện vọng sống với cha hay mẹ khi cha mẹ ly hôn. Tuy nhiên anh X không đến tham gia tố tụng tại Tòa án và Chị N cũng không thể đưa cháu đến Tòa án để ghi nhận ý kiến của cháu. Từ đó Tòa án nhân dân huyện cái Nước không nắm bắt được nguyện vọng của cháu Huỳnh Đức, sinh ngày 13/01/2004 là ở với cha hay là ở với mẹ. Nhưng trên thực tế cháu Huỳnh Đức, sinh ngày 13/01/2004 đang sống chung với cha là anh Trần Văn X từ năm 2008 cho đến nay là 11 năm đã ổn định về cuộc sống. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Yến Nh về việc tiếp tục giao cháu Cháu Đức cho anh X tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành là phù hợp. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con do anh X không đến Tòa án để tham gia tố tụng nên không có cơ sở để xác định mức cấp dưỡng cho cháu Huỳnh Đức, sinh ngày 13/01/2004 là bao nhiêu? Vì không có yêu cầu của anh X. Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét vấn đề này. Nếu sau này anh X có yêu cầu thì khởi kiện thành vụ kiện khác.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Phạm Yến Nh xác định chị và anh Trần Văn X không tài sản chung, vợ chồng không có nợ ai, cũng không ai nợ vợ chồng. Nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Nếu sau này chị Phạm Yến Nh và anh Trần Văn X có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung thì chị Phạm Yến Nh và anh Trần Văn X đều có quyền khởi kiện thành vụ kiện dân sự khác theo quy định pháp luật.
Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm Chị Phạm Yến Nh phải nộp theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Các điều 28; 35; 39; 147, 227, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Các điều 9,14, 51, 53, 54, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Về hôn nhân: Tuyên bố chị Phạm Yến Nh và anh Trần Văn X không phải là vợ chồng.
[2] Về con chung: Giao con chung của chị Phạm Yến Nh và anh Trần Văn X là cháu Trần Huỳnh Đ, sinh ngày 13/01/2004 cho anhh Trần Văn X tiếp tục nuôi dương cho đến khi thành niên, chị Phạm Yến Nh không phải cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[3] Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Phạm Yến Nh phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền là 300.000 (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004630 ngày 29 tháng 7 năm 2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Chị Phạm Yến Nh đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Trường hợp Bản án (Quyết định) được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Trần Văn X có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV&THA TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện Cái Nước; - Chi cục THADS huyện Cái Nước; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thanh Khiết |