vanban.org

Bản án 189/2019/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 12/11/2019 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn của chị Phạm Thị Giang.

Giao con chung là cháu Bùi Xuân Bắc, sinh ngày 10/12/2002 cho anh Bùi Hữu Phương trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Không ai được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị Giang - Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn của chị Phạm Thị Giang.
  • Căn cứ chính? Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:189/2019/HNGĐ-ST
Ngày 12-11-2019
V/v thay đổi người trực tiếp nuôi con
sau khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lương Ngọc Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Đăng Khoa

Ông Nguyễn Thành Biên

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Quỳnh Như – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Ngày 12 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 230 /2019/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2019 về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4480/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Giang, sinh năm 1975; Nơi cư trú: Số 16D/17 đường Đình Đông, phường Đông Hải, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

- Bị đơn: Anh Bùi Hữu Phương, sinh năm 1968; ĐKHKTT: Số 16D/17 đường Đình Đông, phường Đông Hải, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Hiện cư trú tại: Rue des Grands Carmes 13-1000 Bruxelles, Beljum (Bỉ).

Chị Phạm Thị Giang và anh Bùi Hữu Phương vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các văn bản khác, nguyên đơn chị Phạm Thị Giang trình bày:

Chị Phạm Thị Giang và anh Bùi Hữu Phương kết hôn ngày 17/12/2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đông Hải, quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống chị Giang và anh Phương có 03 con chung là Bùi Xuân Nam, sinh năm 1992; Bùi Thu Trang, sinh năm 1996 và Bùi Xuân Bắc, sinh ngày 10/12/2002. Năm 2011, do mâu thuẫn nên chị Giang và anh Phương đã làm thủ tục ly hôn tại Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Tòa án đã ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Giang, anh Phương; công nhận việc thỏa thuận giữa chị Giang, anh Phương về việc con lớn đã trưởng thành nên không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết; 02 con nhỏ là Bùi Thu Trang và Bùi Xuân Bắc đề nghị Tòa án giao cả hai con cho chị Giang chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành. Tuy nhiên, hiện nay chị Giang và anh Phương thỏa thuận với nhau: Chuyển quyền nuôi dưỡng con chung là cháu Bùi Xuân Bắc từ chị Giang sang anh Phương để anh Phương được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Bắc. Về cấp dưỡng nuôi con chung, anh chị tự giải quyết với nhau, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại Đơn trình bày ngày 28/9/2019 có xác nhận của Lãnh sự quán Việt Nam tại Vương quốc Bỉ và các văn bản khác bị đơn anh Bùi Hữu Phương trình bày:

Anh Phương thống nhất với chị Giang về quá trình giải quyết ly hôn, nuôi con. Nay chị Giang có nguyện vọng giao cháu Bùi Xuân Bắc, sinh ngày 10/12/2002 cho anh nuôi, anh đồng ý. Về cấp dưỡng nuôi con chung, anh chị tự giải quyết với nhau, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Chị Phạm Thị Giang đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, anh Bùi Hữu Phương hiện đang ở nước ngoài có đơn xin vắng mặt và không đề nghị hòa giải. Căn cứ khoản 2, khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án.

Tại phiên tòa sơ thẩm: Chị Giang, anh Phương vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

Quan hệ tranh chấp của vụ án về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn quy định tại khoản 3 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37 và điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Về việc vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn và bị đơn đều trình bày do điều kiện ở xa và bận công việc không thể có mặt trong thời gian Tòa án giải quyết vụ án. Anh Bùi Hữu Phương hiện đang sinh sống ở nước ngoài, trong bản tự khai anh gửi về Tòa án có xác nhận của Đại sứ quán Việt Nam tại Vương quốc Bỉ, anh Phương đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và ủy quyền cho chị Phạm Thị Giang nhận các văn bản tố tụng của Tòa thay cho anh. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Bùi Hữu Phương và chị Phạm Thị Giang.

Về yêu cầu của nguyên đơn: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của các đương sự, có đủ cơ sở kết luận: Sau khi ly hôn, chị Phạm Thị Giang là người trực tiếp nuôi cháu Bùi Xuân Bắc. Đến nay giữa chị Giang và anh Phương có thống nhất chuyển quyền nuôi cháu Bùi Xuân Bắc cho anh Phương nuôi dưỡng. Xét việc đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con là chính đáng, hơn nữa anh Phương có công việc, thu nhập ổn định. Cháu Bùi Xuân Bắc cũng có quan điểm đồng ý được ở với bố. Căn cứ Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn đối với cháu Bùi Xuân Bắc của chị Phạm Thị Giang.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Phạm Thị Giang và anh Bùi Xuân Bắc tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Phạm Thị Giang tự nguyện chịu toàn bộ án phí sơ thẩm nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về quyền kháng cáo của các đương sự: Chị Phạm Thị Giang và anh Bùi Xuân Bắc được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37; điểm b khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2, khoản 4 Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 266; Điều 273; điểm d khoản 1 Điều 469; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn của chị Phạm Thị Giang.

Giao con chung là cháu Bùi Xuân Bắc, sinh ngày 10/12/2002 cho anh Bùi Hữu Phương trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Không ai được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Việc cấp dưỡng nuôi con: Chị Phạm Thị Giang và anh Bùi Hữu Phương tự thỏa thuận, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Thị Giang phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0008431 ngày 22 tháng 10 năm 2019 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Phạm Thị Giang đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Chị Phạm Thị Giang được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Anh Bùi Hữu Phương được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ