- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Thanh T - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trịnh Thanh T phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 189/2017/HSST Ngày 09-8-2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Vũ Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Minh Hiếu.
2. Ông Từ Anh Tuấn.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai, Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Sơn, Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 200/2017/HSST ngày 13 tháng 7 năm 2017, theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 205/2017/HSST-QĐ ngày 28/7/2017 đối với bị cáo:
Trịnh Thanh T, sinh năm 1974 tại tỉnh Bình Dƣơng; thƣờng trú: Khu phố L1, phƣờng A, thị xã K, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Bảo vệ; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trịnh Văn C, sinh năm 1954 và con bà Trần Thị Xuân H, sinh năm 1954; bị cáo có 01 em ruột sinh năm 1975; có vợ Nguyễn Thị T, sinh năm 1983 và có 02 con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt giam ngày 20/4/2017, có m t.
-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan : Ông Phan Huy C, sinh năm 1985; thƣờng trú: Ấp B, xã N, huyện B, tỉnh An Giang, vắng m t.
-Người làm chứng: Ông Bùi Quốc C, sinh năm 1993; thƣờng trú: Ấp L, xã M, huyện P, tỉnh Tiền Giang; chỗ ở: Khu phố Đ2, phƣờng A, thị xã K, tỉnh Bình Dƣơng, vắng m t.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Bị cáo Trịnh Thanh T sử dụng ma túy đá Methamphetamine từ tháng 01/2017, vào lúc 18 giờ 30 phút ngày 20/4/2017, T điều khiển xe mô tô, biển số 67Y1-7416 đến khu vực cầu vƣợt X, phƣờng X, quận Đ, Thành phố Hồ Chí Minh g p ngƣời tên T1 không r nhân thân) mua 01 bịch ma túy với giá 1.000.000đồng và để trong túi áo bên trái. Đến 21 giờ 45 phút cùng ngày khi T điều khiển xe lƣu thông đến đoạn đƣờng thuộc khu phố L, phƣờng H, thị xã K, tỉnh Bình Dƣơng bị lực lƣợng Công an phƣờng Tân Đông Hiệp lập biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang.
Vật chứng thu giữ: 01 gói nylon hàn kín bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển số 67Y1-7416.
Kết luận giám định số 221/MT-PC54 ngày 27/4/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận: Chất tinh thể màu trắng thu giữ từ Trịnh Thanh T có trọng lƣợng 3,4235gam có Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II, STT 67, Nghị định 82 ngày 19/7/2013 của Chính phủ, có hàm lƣợng 71,49%, tƣơng ứng 2,4475gam.
Bị cáo Trịnh Thanh T thừa nhận việc sử dụng ma túy, ngày 20/4/2017 khi đi mua ma túy về sử dụng thì bị bắt. Bị cáo T không có ý kiến khiếu nại về kết luận giám định số 221/MT-PC54 ngày 27/4/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng.
Đối với ngƣời tên T1 (không rõ nhân thân) bán ma túy cho Trịnh Thanh T, Công an thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng tiếp tục xác minh xử lý sau.
Xe mô tô, biển số 67Y1-7416 bị cáo T sử dụng, xe trên thuộc quyền sở hữu của ông Phan Huy C.
Cáo trạng số 205/QĐ-KSĐT ngày 12/7/2017, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Trịnh Thanh T về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy theo Khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo T, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 194; Điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo T mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy ma túy còn lại sau giám định.
Trƣớc khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo T nói lời sau cùng: Bị cáo biết việc mình làm là sai, vi phạm pháp luật. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án thấp nhất cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo Trịnh Thanh T khai nhận, bị cáo sử dụng ma túy đá từ tháng 01/2017, ngày 20/4/2017 bị cáo đi mua ma túy về sử dụng, khi đang lƣu thông trên đƣờng bị bắt giữ. Qua giám định ma túy thu giữ từ bị cáo T có trọng lƣợng 3,4235 gam có Methamphetamine, hàm lƣợng 71,49% tƣơng ứng 2,4475gam. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II, STT 67, Nghị định 82 ngày 19/7/2013 của Chính phủ.
Tại Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đ i b sung năm 2009 quy định:
1. Ngƣời nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép ho c chiếm đoạt chất ma túy, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
Nhƣ vậy với việc vận chuyển 2,4475 gam Methamphetamine, hành vi trên của bị cáo Trịnh Thanh T là hành vi của tội Vận chuyển trái phép chất ma túy đƣợc quy định tại Khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng số 205/QĐ-KSĐT ngày 12/7/2017 của Viện kiểm sát thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo cũng nhƣ bản luận tội của Kiểm sát viên ngày hôm nay đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Bị cáo Trịnh Thanh T là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện phạm tội một cách cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hƣởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phƣơng. Thiết nghĩ trong tình hình hiện nay hành vi mua bán chất ma túy, vận chuyển trái phép chất ma túy, tệ nạn nghiện ma túy xảy ra nhiều có diễn biến phức tạp, đây cũng là nguyên nhân dẫn đến tội phạm hình sự gia tăng. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo T mức án tù có thời hạn tƣơng xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành ngƣời công dân có ích cho gia đình, xã hội cũng nhƣ có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tình tiết trên đƣợc quy định tại Điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo T có nhân thân tốt, thể hiện việc bị cáo có nghề nghiệp n định và không có tiền án, tiền sự.
Về vật chứng: Qua điều tra thu giữ ma túy còn lại sau giám định của bị cáo T, vật chứng thuộc loại nhà nƣớc cấm lƣu hành. Do vậy, cần tịch thu tiêu hủy. Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển số 67Y1-7416 bị cáo T sử dụng vận chuyển ma túy, xe trên thuộc sở hữu hợp pháp của ông Phan Huy C, ông C cho T sử dụng và không biết T sử dụng vào việc phạm tội, Công an thị xã Dĩ An đã trả lại xe trên cho ông C là đúng pháp luật.
Đối với ngƣời tên T1 không r nhân thân bán ma túy cho bị cáo T, Công an thị xã Dĩ An xác minh xử lý sau.
Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng đƣa ra tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, mức hình phạt đối với bị cáo T cũng nhƣ việc xử lý vật chứng trong vụ án. Xét quan điểm trên phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử do vậy đƣợc chấp nhận.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo T phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trịnh Thanh T phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma túy.
Áp dụng Khoản 1 Điều 194; Điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đ i, b sung năm 2009.
Xử phạt bị cáo Trịnh Thanh T 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/4/2017.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 74, Điểm a Khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 bì thƣ niêm phong số 221/MT-PC54 bên trong chứa chất bột màu trắng có Methamphetamine trọng lƣợng sau giám định là 2,8980gam. Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/7/2017.
3. Về án phí: Áp dụng Khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14.
Bị cáo Trịnh Thanh T phải nộp 200.000 hai trăm nghìn) đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng m t có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án ho c niêm yết bản án
| Nơi nhận: - Bị cáo (01); - Ngƣời tham gia tố tụng 01 - VKSND thị xã Dĩ An (01); - Công an thị xã Dĩ An (01); - Trại giam CA tỉnh Bình Dƣơng 01 ; - Chi cục THADS thị xã Dĩ An 01 ; - TAND tỉnh Bình Dƣơng (01); - Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng 01 ; - UBND nơi bị cáo cƣ trú 01 ; - Phòng PV 27 CA tỉnh Bình Dƣơng 01 ; - Phòng PC 81 CA tỉnh Bình Dƣơng 01 ; - Lƣu: VT,HSVA 02 . | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Vũ Linh |