vanban.org

Bản án 189/2017/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 09/08/2017 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 09/08/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng hình sự;

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo về trách nhiệm dân sự. Áp dụng: Điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm n,

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn V - phạm tội giết người (điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm n
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 189/2017/HSPT
Ngày: 09/8/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Phước Thanh.

Các Thẩm phán: - Ông Vũ Thanh Liêm.

- Ông Nguyễn Văn Tiến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Kiều, Thư ký Tòa án, Tòa án nhân

dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tham gia phiên tòa: Ông Quách

Đức Dũng, Kiểm sát viên.

Vào ngày 09 tháng 8 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét

xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 218/2017/TLPT-HS ngày 29 tháng 6 năm 2017 đối với bị cáo Trần Văn V về tội “Giết người”. Do có kháng cáo của đại diện hợp pháp của người bị hại bà Trần Thị Th kháng cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 07/2017/HSST ngày 26/5/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

Bị cáo bị kháng cáo: Trần Văn V, sinh năm 1991. Trú tại: Thôn L, xã X, thị

xã S, tỉnh Phú Yên. Nghề nghiệp: Công nhân. Trình độ văn hóa: 05/12. Cha: Trần Văn T, mẹ Lâm Thị Ch. Vợ Trần Thị Ng. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt giam ngày 29/01/2017- Có mặt.

* Đại diện hợp pháp của người bị hại:

Bà Trần Thị Th - sinh năm: 1965 (mẹ bị hại). Trú tại: thôn V, xã X, thị xã S,

Phú Yên- Có mặt.

Người bào chữa: NBC - Luật sư Đoàn luật sư tỉnh Phú Yên - Có mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị Ng; sinh năm 1990

Trú tại: L, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên- Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên và bản án sơ

thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên có nội dung như sau:

Khoảng 17hl5’ ngày 28/01/2017 Trần Văn V chở chị Trần Thị Ng đến nhà

bà Nguyễn Thị C ở thôn L để chúc Tết. Khi đến gần nhà, thì chị Ng vào nhà còn V ở lại chơi Bầu cua. Khoảng 10 phút sau anh Trịnh Văn B đi chơi về thấy chị Ng, anh B nhớ lại việc hỏi mượn vợ chồng chị Ng 5.000.000đ để làm nhà, nhưng không cho mượn, nên chửi chị Ng, xảy ra mâu thuẫn, anh B dùng tay tát chị Ng 01 cái; chị Ng chạy ra nói lại cho V biết. V đi vào nhà bà C nói: “Sao ở nhà mà để Ben đánh Ng”, V tức giận nhưng không dám đánh vì anh B to lớn, nên ra lấy xe chở chị Ng về nhà, cha mẹ V trách móc, V không nói gì mà xuống bếp lấy 02 con dao bỏ vào túi quần, rồi ra chở Ng đến nhà B, thấy B ngồi trước thềm, V nói B ra xin lỗi vì đã đánh Ng nhưng B không xin lỗi mà lớn tiếng cãi nhau với Ng và V, B xông vào đến định đánh vợ chồng V, bà C thấy vậy chạy đến can ngăn đẩy B ra làm B ngã xuống đất, B nhặt một cục đá định lao đến đánh V thì bà C tiếp tục ôm B lại để can ngăn, Ng dùng mũ bảo hiểm xông đến đánh B nhưng trúng vào tay trái của bà C làm rách da chảy máu, V liền rút con dao Thái Lan cán nhựa màu vàng ra đâm một nhát trúng vào ngực trái của B làm gãy dao, V ném cán dao xuống đất rồi tiếp tục rút con dao cán gỗ còn lại trong túi quần đâm tiếp một nhát vào vùng hông bên trái của B làm gãy dao, V ném cán dao lại rồi gọi Ng chạy ra ngoài lấy xe chở Ng đến xã X, thị xã S để chơi và chúc Tết. Trên đường đi, V nói cho Ng biết V đã lấy 02 con dao Thái Lan ở nhà cha mẹ ruột của V và đâm B 02 nhát. B được người nhà đưa đi cấp cứu nhưng đã chết. Khoảng 20 giờ cùng ngày, V đến Công an xã X đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

* Tại bản án hình sự sơ thẩm số 07/2017/HSST ngày 26/05/2017, Tòa án

nhân dân tỉnh Phú Yên đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn V phạm tội: “Giết người” áp dụng điểm n khoản

1 Điều 93; điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Trần Văn V - 16 năm tù, tính từ ngày bắt giam 29/01/2017.

Ngoài ra bản án còn tuyên quyết định về phần án phí, trách nhiệm bồi

thường dân sự, quyền kháng cáo và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Ngày 31/5/2017, đại diện hợp pháp của người bị hại là bà Trần Thị Th kháng

cáo đề nghị tăng hình phạt và tăng mức bồi thường thiệt hại. Xem xét trách nhiệm hình sự đối với bà Trần Thị Ng.

:

- Đại diện hợp pháp của người bị hại là bà Trần Thị Th giữ nguyên kháng

cáo đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo Trần Văn V và xem xét trách nhiệm hình sự đối với bà Trần Thị Ng. Rút kháng cáo yêu cầu về bồi thường thiệt hại.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng

h vi của bị cáo Trần Văn V bị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xử phạt về tội “Giết người” theo điểm n, khoản 1, Điều 93 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và xử phạt bị cáo 16 năm tù là phù hợp. Bà Trần Thị Ng không đồng phạm với Trần Văn V. Do đó, đề nghị HĐXX cấp phúc thẩm bác kháng cáo.

Bị cáo Trần Văn V khai nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm của

Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên ngày 26/5/2017.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Trần Văn V có quan điểm về việc Tòa án cấp

sơ thẩm kết án bị cáo về tội “Giết người” theo điểm n, khoản 1, Điều 93 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và xử phạt bị cáo 16 năm tù là phù hợp. Do đó, đề nghị HĐXX cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo.

t quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn

diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, Luật sư, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Văn V phù hợp với lời khai của những

người làm chứng Nguyễn Thị C, Trần Thị Ng, Trần Văn Tiến, Lâm Thị Ch và Trần Văn T; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 28/01/2017, biên bản thực nghiệm điều tra ngày 28/02/2017 và các vật chứng thu giữ; phù hợp với các kết luận giám định số 37/TT của Trung tâm pháp y- Sở y tế tỉnh Phú Yên ngày 23/02/2017, số 55/GĐ-PC54 ngày 03/3/2017 và số 38/GĐ-PC54 ngày 17/02/2017 và các tài liệu chứng cứ do cơ quan điều tra thu thập được có tại hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ xác định: Do bực tức về việc Trịnh Văn B đánh vào mặt vợ mình nên Trần Văn V về nhà bố mẹ ruột lấy 02 con dao Thái Lan cất giấu trong túi quần đi đến gặp B và V đã dùng 02 con dao này đâm B. Bị hại Trịnh Văn B bị chết là do các vết dao đâm của bị cáo Trần Văn V gây ra.

Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo Trần Văn V mang tính chất côn đồ.

Cho nên, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên kết án bị cáo V, về tội: “Giết người” theo điểm n, khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng người và đúng tội.

Xét kháng cáo của đại diện hợp pháp của người bị hại bà Trần Thị Thành:

- Về hình phạt:

Giữa bị cáo Trần Văn V với bị hại Trịnh Văn B có mối quan hệ thân thuộc

trong gia đình và bị hại Trịnh Văn B chỉ dùng tay tát vào mặt vợ bị cáo là chị Trần Thị Ng không gây thương tích gì, hai bên có thể dàn xếp hòa giải nhưng bị cáo Trần Văn V lại chuẩn bị hung khí nguy hiểm để trả thù và đã dùng liên tiếp 02 con dao để tước đoạt sinh mạng của bị hại Trịnh Văn B. Hành vi của bị cáo Trần Văn V đã cho thấy tính côn đồ, hung hãn nên cần phải nghiêm trị để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét nguyên nhân gây ra vụ án này là do bị hại Trịnh Văn B xử sự không đúng mực (chỉ vì vợ chồng bị cáo Trần Văn V không cho bị hại Trịnh Văn B mượn tiền nên B gây sự và đánh vợ bị cáo là Trần Thị Ng) và bị cáo Trần Văn V có nhân thân tốt; sau khi phạm tội đã ra đầu thú; thành khẩn khai báo hành vi phạm tội và kịp thời bồi thường một phần thiệt hại cho gia đình bị hại, thể hiện sự ăn năn hối cải. Vì vậy, cấp sơ thẩm sau khi đánh giá tính chất mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo V và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên, quyết định xử phạt bị cáo với mức hình phạt 16 năm tù, trên mức khởi điểm của khung hình phạt là phù hợp. Cho nên, cấp phúc thẩm không thể chấp nhận kháng cáo của đại diện hợp pháp người bị hại về yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo Trần Văn V.

- Về trách nhiệm hình sự đối với bà Trần Thị Ng:

Tuy tại thời điểm bị cáo Trần Văn V dùng dao đâm bị hại Trịnh Văn B thì

bà Trần Thị Ng có tham gia xô xát nhưng bà Trần Thị Ng không xúi giục, không biết bị cáo V chuẩn bị dao và giữa bị cáo V và bà Ng cũng không có sự bàn bạc nhất trí trước khi bị cáo V đâm bị hại B. Cho nên, bà Trần Thị Ng không đồng phạm với bị cáo Trần Văn V và cấp sơ thẩm không xem xét trách nhiệm hình sự đối với bà Trần Thị Ng là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật. Đại diện hợp pháp người bị hại kháng cáo cho rằng đã bỏ lọt tội phạm đối với bà Trần Thị Ng không được chấp nhận.

- Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện hợp pháp của người bị hại bà Trần Thị

Thành rút yêu cầu kháng cáo về tăng mức bồi thường thiệt hại. Do đó, HĐXX cấp phúc thẩm không xem xét và đình chỉ xét xử phúc thẩm.

Các quyết định khác còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng

nghị nên cấp phúc thẩm không xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng hình sự;

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo về trách nhiệm dân sự.

- Áp dụng: Điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm n,

khoản 1 Điều 93; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999,

Không chấp nhận kháng cáo của đại diện hợp pháp của người bị hại bà

Trần Thị Th và giữ nguyên bản án sơ thẩm:

Xử phạt bị cáo Trần Văn V 16 (mười sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình

phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giam 29/01/2017.

- Áp dụng: Điều 42 Bộ luật hình sự; Điều 591 và Điều 585 Bộ luật dân sự.

+ Buộc bị cáo Trần Văn V bồi thường cho bà Trần Thị Ng số tiền chi phí

cứu chữa và mai táng là 25.848.658 đồng.

+ Buộc bị cáo Trần Văn V bồi thường tiền tổn thất tinh thần cho gia đình bị

hại gồm: Cha, mẹ, vợ và 02 con của bị hại là 121.000.000 đồng. Số tiền bồi thường về tổn thất tinh thần được chia 05 phần bằng nhau và do chị Nga đại diện nhận thay.

Tổng số tiền phải bồi thường là 146.848.658 đồng, bị cáo đã bồi thường

45.500.000 đồng. Như vậy, bị cáo Trần Văn V còn phải bồi thường tiếp là 101.348.658 đồng.

+ Buộc bị cáo Trần Văn V có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Trịnh Quốc V1

(Sinh ngày 31/12/2010) và cháu Trịnh Quốc V2 (Sinh ngày 18/9/2014) mỗi cháu số tiền 610.000 đồng/tháng. Thời hạn cấp dưỡng tính từ ngày 28/01/2017 cho đến khi phát sinh các trường hợp chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 118 Luật hôn nhân và gia đình.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người

phải thi hành án chậm thi hành thì hàng tháng còn phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành tương ứng với thời gian chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự 2015.

Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng

nghị về xử lý vật chứng, về án phí sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bà Trần Thị Th không phải chịu án phí phúc thẩm.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ