- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Trúc M kiện Huỳnh Chí T"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và án phí Tòa án;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bán án số: 188/2023/HNGĐ-ST Ngày 14 tháng 12 năm 2023 Tranh chấp “Hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L – TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Nam
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sơn; Bà Trần Thanh Vân
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trương Phi – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L tham gia phiên tòa: Ông Dương Chí Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 12 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh An Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 649/2023/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 558/2023/QĐXXST– HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 526/2023/QĐST- HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Trúc M, sinh năm 1992.
Địa chỉ: Số I, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang. (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
2. Bị đơn: Ông Huỳnh Chí T, sinh năm 1992. Vắng mặt.
Địa chỉ: Số I, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 14/4/2023 và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn Nguyễn Thị Trúc M trình bày: Năm 2013, bà M và ông Huỳnh Chí T quen biết, tìm hiểu và tự nguyện tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố L theo Giấy chứng nhận kết hôn số 15/KH.2013 ngày 28/02/2013. Sau khi kết hôn, ông bà sống hạnh phúc đến tháng 12/2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cách sống, tính tình không phù hợp nhau, ông T thường hay ghen vô cớ nên cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc và ông bà không chung sống với nhau từ tháng 01/2023 cho đến nay. Do đó, bà M yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Huỳnh Chí T. Về con chung: Bà M và ông T có 02 con tên Huỳnh Phương Mai A, sinh ngày 16/3/2013 và Huỳnh Chí K, sinh ngày 01/5/2020. Khi ly hôn bà yêu cầu trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung tên Huỳnh Chí K, không yêu cầu ông T cấp dưỡng. Đối với cháu Huỳnh Phương Mai A bà đồng ý giao cho ông T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung bà không cấp dưỡng nuôi con chung. Bà M và ông T không có tài sản chung, nợ chung.
Bị đơn Huỳnh Chí T vắng mặt trong thời gian chuẩn bị xét xử, không nộp văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bị đơn.
Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án:
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, thành phần Hội đồng xét xử cũng như xác định quan hệ tranh chấp, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong vụ án đúng theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Căn cứ các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M được ly hôn với ông T. Về con chung, để đảm bảo ổn định về tinh thần và đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung nên để bà M được tiếp tục nuôi dưỡng cháu K. Ông T được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Mai A. Về cấp dưỡng, không yêu cầu nên không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu nên không xét đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
Tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn đăng ký thường trú tại thành phố L nên nguyên đơn khởi kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn nhận được các văn bản do Tòa án cấp tống đạt nhưng vắng lần thứ hai tại phiên tòa, không lý do. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về nội dung tranh chấp
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ bản sao giấy chứng nhận kết hôn số 15/KH.2013 ngày 28/02/2013 của Ủy ban nhân dân phường B, thành phố L, thể hiện giữa nguyên đơn, bị đơn tiến đến hôn nhân xuất phát từ sự tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, phù hợp Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Tuy nhiên, quá trình chung sống, nguyên đơn cho rằng vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, thiếu sự chia sẻ, cảm thông nhau trong cuộc sống vợ chồng nên nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nhưng bị đơn không có ý kiến.
Xét thấy, trong quan hệ hôn nhân, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ, tin tưởng và chia sẻ nhau những khó khăn để vượt qua thử thách, đây là cơ sở vững chắc để bồi đắp cho hôn nhân, cho gia đình hạnh phúc. Giữa nguyên đơn, bị đơn đã có thời gian quen biết, tìm hiểu và tiến đến hôn nhân xuất phát từ tình cảm yêu thương nhưng khi đã thành vợ chồng thì cả hai không xây dựng gia đình hạnh phúc, không tin tưởng nhau trong đời sống vợ chồng. Quá trình chuẩn bị xét xử, nguyên đơn vẫn kiên quyết yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nhưng bị đơn không quan tâm, không phản bác lại yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không tham gia hòa giải để hàn gắn quan hệ hôn nhân, điều này thể hiện tình cảm vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Mặt khác, xét về tình nghĩa vợ chồng thì cả hai không chung sống nên không còn nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ và thực hiện các công việc trong gia đình. Do đó, việc nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn là có căn cứ, phù hợp với Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 19, Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được Hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận.
Về con chung: Bà M và ông T có 02 con chung tên Huỳnh Phương Mai A, sinh ngày 16/3/2013 và Huỳnh Chí K, sinh ngày 01/5/2020, hiện cháu K do bà M nuôi dưỡng, còn cháu Mai A do ông T nuôi dưỡng. Bà M yêu cầu đuợc tiếp tục nuôi dưỡng cháu K và đồng ý để ông T nuôi dưỡng cháu Mai A, đồng thời tại biên bản ghi nhận ý kiến con chung ngày 07/11/2023, cháu Mai A có yêu cầu được sống với ông T nhưng ông T không có ý kiến phản đối. Do đó, tạo điều kiện thuận lợi cho việc sinh hoạt hàng ngày và việc học hành của con, Hội đồng xét xử chấp nhận giao quyền cho bà M được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu K và ông T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Mai A theo quy định tại Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Các đương sự cùng các thành viên gia đình hai bên không được cản trở nhau trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Các đương sự có quyền thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con theo quy định pháp luật.
Về cấp dưỡng: Các đương sự không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xét đến.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét đến.
Về án phí: Nguyên đơn phải nộp án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228, Điều 238; Điều 266; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 19; Điều 51; Điều 56, Điều 57; Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và án phí Tòa án;
Xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
[1] Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Trúc M được ly hôn với ông Huỳnh Chí T. Quan hệ hôn nhân giữa bà M và ông T chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
[2] Về con chung: Ông T và bà Giàu có 02 con tên Huỳnh Phương Mai A, sinh ngày 16/3/2013 và Huỳnh Chí K, sinh ngày 01/5/2020. Bà M được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu K. Ông T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Mai A.
Các đương sự cùng các thành viên gia đình hai bên không được cản trở nhau trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Các đương sự có quyền thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con theo quy định pháp luật.
[3] Về cấp dưỡng: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.
[5] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn Nguyễn Thị Trúc M phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002557 ngày 19/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L. Nguyên đơn đã thực hiện xong.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
(Giải thích Điều 26 Luật Thi hành án dân sự)
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Chi cục Thi hành án dân sự Tp.L; - VKSND Tp.L; - Phòng KTNV - TAND tỉnh An Giang; - UBND phường B, Tp.L; - Lưu hồ sơ + VP. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Quốc Nam |