vanban.org

Bản án 188/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 17/08/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ánh T.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ánh T ly hôn anh Vũ Huy H. Về con chung: Giao con chung Vũ Thảo Nh, sinh ngày 06/01/2015 cho chị Nguyễn Thị Ánh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con đủ 18 (mười tám) tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vũ Thị Ánh T - Vũ Huy H"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ánh T.
  • Căn cứ chính? Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:188/2023/HNGĐ-ST
Ngày 17-8-2023
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Bình

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đặng Huy Du

Bà Vũ Thị Minh Nguyệt.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Mai Phương-Thẩm tra viên của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thu Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 137/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 5 năm 2023 về việc:“Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 158/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 68/2023/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ánh T, sinh năm 1988. Nơi ĐKHKTT: Tổ 13, khu Quán N, phường Dư Hàng K, quận Lê Ch, thành phố Hải Phòng (nay là 263 Miếu Hai X, phường Dư Hàng K, quận Lê Ch, thành phố Hải Ph); hiện ở: thôn Nghĩa D, xã Đại S, huyện Tứ K, tỉnh Hải D; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);

- Bị đơn: Anh Vũ Huy H, sinh năm 1986. Nơi ĐKHKTT: Tổ 13, khu Quán N, phường Dư Hàng K, quận Lê Ch, thành phố Hải Phòng (nay là 263 Miếu Hai X, phường Dư Hàng K, quận Lê Ch, thành phố Hải Phòng); nơi cư trú: Mỹ; vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 28 tháng 4 năm 2023 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn là Nguyễn Thị Ánh T trình bày:

Chị Nguyễn Thị Ánh T và anh Vũ Huy H quen biết, tìm hiểu trên cơ sở nguyện, tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Dư Hàng Kênh, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng vào ngày 15/01/2014. Sau khi kết hôn, chị Tuyết về chung sống cùng gia đình anh Hoàng tại tổ 13, khu Quán N, phường Dư Hàng K, quận Lê Ch, thành phố Hải Phòng (nay là 263 Miếu Hai Xã, phường Dư Hàng Kênh, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng). Thời gian đầu chung sống, vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc và không có mâu thuẫn gì lớn trong khoảng thời gian được hơn một năm. Từ năm 2015, vợ chồng bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do kinh tế khó khăn, vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, lối sống. Đến tháng 09 năm 2015 anh Hoàng có đi Mỹ để lao động, từ khi anh Hoàng đi sang Mỹ, chị Tuyết vẫn ở với bố mẹ anh Hoàng. Nhưng từ đó đến nay anh Hoàng không hỏi thăm và liên lạc gì với chị Tuyết. Đến năm 2019, chị Tuyết về nhà bố mẹ đẻ ở Hải Dương sinh sống. Chị Tuyết có liên hệ với gia đình anh Hoàng thì được biết anh Hoàng vẫn thường xuyên gọi điện về hỏi thăm gia đình nhưng gia đình không biết cụ thể địa chỉ của anh Hoàng ở bên Mỹ. Chị Tuyết cho rằng anh Hoàng cố tình giấu địa chỉ và không muốn cho chị biết hiện nay đang ở đâu. Nay vợ chồng chị đã ly thân, mỗi người một nơi, không ai còn quan tâm đến ai, tình cảm vợ chồng không còn nên chị Tuyết làm đơn đề nghị Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết cho chị Tuyết ly hôn với anh Vũ Huy H.

Về con chung: Quá trình chung sống chị Nguyễn Thị Ánh T và anh Vũ Huy H có một con chung là Vũ Thảo Nh, sinh ngày 06/01/2015. Từ khi vợ chồng ly thân thì con chung vẫn ở cùng với chị Tuyết. Ly hôn, chị Tuyết đề nghị Toà giao con chung Vũ Thảo Nh cho chị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con trưởng thành. Việc cấp dưỡng nuôi con chung chị Tuyết, không yêu cầu anh Hoàng phải cấp dưỡng tiền nuôi con nên không yêu cầu Toà án giải quyết

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Ánh T và anh Vũ Huy H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Vũ Huy H hiện đang ở nước ngoài. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ánh T chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng ở Việt Nam của anh Hoàng mà không cung cấp được địa chỉ của anh Vũ Huy H ở nước ngoài. Thông qua bố đẻ của anh Vũ Huy H được biết anh Hoàng vẫn liên lạc với gia đình ở trong nước nhưng bố đẻ của anh Hoàng không cung cấp địa chỉ, tin tức của anh Hoàng cho Tòa án cũng như không thực hiện yêu cầu của Tòa án thông báo cho anh Hoàng để gửi lời khai về cho Tòa án. Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng cho anh Vũ Huy H theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà, chị Nguyễn Thị Ánh T vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt và có quan điểm vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn với anh Vũ Huy H. Anh Vũ Huy H vắng mặt và không có ý kiến gì gửi cho Tòa án.

Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ánh T và bị đơn là anh Vũ Huy H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến phiên tòa, tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay, chị Nguyễn Thị Ánh T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Vũ Huy H vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị Ánh T và anh Vũ Huy H là đúng quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận cuộc sống vợ chồng của chị Nguyễn Thị Ánh T và anh Vũ Huy H không có hạnh phúc, hiện mỗi người sống một nước, không có khả năng đoàn tụ, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Ánh T.Về con chung: Chị Nguyễn Thị Ánh T và anh Vũ Huy H có một con chung là cháu Vũ Thảo Nh, sinh ngày 06/01/2015. Từ khi vợ chồng sống ly thân con chung ở với chị Tuyết, anh Hoàng vẫn đang ở nước ngoài. Vì vậy, cần giao con chung Vũ Thảo Nh cho chị Tuyết được tiếp tục nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung, chị Tuyết không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết. Chị Tuyết là nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ, cũng như lời trình bày của các đương sự, quan điểm của Viện Kiểm sát tại phiên tòa,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

- Về tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị Ánh T có đơn khởi kiện về việc ly hôn với anh Vũ Huy H. Đây là vụ án hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Vũ Huy H, hiện đang cư trú ở nước ngoài nên theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 39, điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Về sự vắng mặt của các đương sự: Chị Nguyễn Thị Ánh T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Vũ Huy H hiện đang sinh sống ở nước ngoài, chị Tuyết chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của anh Vũ Huy H ở Việt Nam mà không cung cấp được địa chỉ của anh Vũ Huy H ở nước ngoài. Bố đẻ của anh Vũ Huy H xác nhận anh Hoàng vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình và đồng ý ly hôn với chị Tuyết nhưng không cung cấp địa chỉ cho bố của anh Hoàng. Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã yêu cầu đến lần thứ hai nhưng bố đẻ của anh Vũ Huy H không cung cấp địa chỉ, tin tức của anh Hoàng cho Tòa án cũng như không thực hiện yêu cầu của Tòa án thông báo cho anh Hoàng biết để gửi lời khai về cho Tòa án nên coi đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Các đương sự đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt và thông báo các văn bản tố tụng cho anh Hoàng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Vì vậy, căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt chị Tuyết và anh Hoàng.

- Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ánh T và anh Vũ Huy H kết hôn trên cơ sở tự nguyện đã được Uỷ ban nhân dân phường Dư Hàng Kênh, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 15 tháng 01 năm 2014. Theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Xét thấy: Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Ánh T và anh Vũ Huy H hiện mỗi người sống một nơi, không ai quan tâm đến ai, không còn yêu thương nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, không có khả năng đoàn tụ. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Ánh T về việc xin ly hôn anh Vũ Huy H theo quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Quá trình chung sống chị Nguyễn Thị Ánh T và anh Vũ Huy H có 01 con chung là Vũ Thảo Nh, sinh ngày 06/01/2015. Sau khi anh Hoàng đi Mỹ, con chung ở với chị Tuyết, cháu Nhi sức khỏe vẫn phát triển bình thường về mọi mặt. Bản thân cháu Nhi có nguyện vọng được ở với mẹ. Xét thấy, cần giao con chung Vũ Thảo Nh cho chị Tuyết trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp. Căn cứ Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Tuyết về việc nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Ánh T không yêu cầu anh Vũ Huy H cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Ánh T và anh Vũ Huy H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Ánh T là nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Chị Nguyễn Thị Ánh T và anh Vũ Huy H được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 207, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 273, điểm d khoản 1 Điều 469, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ánh T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ánh T ly hôn anh Vũ Huy H.

2. Về con chung: Giao con chung Vũ Thảo Nh, sinh ngày 06/01/2015 cho chị Nguyễn Thị Ánh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con đủ 18 (mười tám) tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Ánh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

3. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Ánh T và anh Vũ Huy H không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ánh T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0006630 ngày 11 tháng 5 năm 2023 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Nguyễn Thị Ánh T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Chị Nguyễn Thị Ánh T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15(mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Anh Vũ Huy H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01(một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ