vanban.org

Bản án 188/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Phan Thị Lan A và ông Nguyễn Phương L.

Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Thảo Ng, sinh ngày 29/4/2007 cho bà Lan A trực tiếp nuôi dưỡng, ông L không phải cấp dưỡng nuôi con. Riêng cháu Nguyễn Hoàng Khôi N, sinh ngày 17/5/2005 đã trưởng thành. Ông L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về án phí: Bà Lan A p…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Phan Thị Lan A và ông Nguyễn Phương L.
  • Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 188/2023/HNGĐ-ST
Ngày 11 - 8 - 2023
“V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Thái Hoàng Đắc

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Sĩ Hùng

Bà Vũ Thị Mỹ Linh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thúy Kiều – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.

Ngày 11 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 316/2023/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2023 về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 199/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phan Thị Lan A, sinh năm: 1977; Nơi cư trú: số C, khóm V, phường Y, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Phương L, sinh năm: 1976; Nơi cư trú: số C, khóm V, phường Y, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Bà Phan Thị Lan A trình bày tại đơn khởi kiện và được bổ sung tại phiên tòa như sau:

Về hôn nhân: Năm 2005, bà và ông Nguyễn Phương L tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 7, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, không hợp nhau. Hai người đã sống ly thân hơn 06 tháng nay. Bà xác định không còn tình cảm và xin ly hôn với ông L.

Về con chung: Bà Lan A và ông L có 02 người con chung là Nguyễn Hoàng Khôi N, sinh ngày 17/5/2005 (đã trưởng thành) và Nguyễn Thảo Ng, sinh ngày 29/4/2007, đang sống với bà ngoại. Khi ly hôn, bà yêu cầu tiếp tục nuôi cháu Thảo Nguyên, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà và ông L tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Nguyễn Phương L đầy đủ, đúng theo quy định pháp luật nhưng bị đơn vẫn vắng mặt và không có văn bản thể hiện ý kiến, cũng không có đơn phản tố gửi cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Phương L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên tòa xét xử nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về hôn nhân: Năm 2005 bà Nguyễn Thị Lan Anh và ông Nguyễn Phương L tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân giữa ông bà được pháp luật công nhận là hợp pháp và được bảo vệ.

[3] Xét nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng theo bà Lan A trình bày do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, không hợp nhau. Hai người sống ly thân hơn 06 tháng nay mà không có liên hệ hàn gắn tình cảm vợ chồng. Bà xác định không còn tình cảm và xin ly hôn với ông L. Về phía ông L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt và không có văn bản thể hiện ý kiến của mình gửi cho Tòa án. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa ông bà không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Lan A được ly hôn với ông L là phù hợp với Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Về con chung: Bà Lan A và ông L có 02 người con chung là Nguyễn Hoàng Khôi N, sinh ngày 17/5/2005 (đã trưởng thành) và Nguyễn Thảo Ng, sinh ngày 29/4/2007, đang sống với bà ngoại. Khi ly hôn, bà yêu cầu trực tiếp nuôi cháu Thảo Nguyên. Xét thấy ông L không có ý kiến về việc bà Lan A yêu cầu nuôi cháu Thảo Nguyên. Tại biên bản ghi nhận ý kiến ngày 12/6/2023, cháu Thảo Nguyên có nguyện vọng sống với mẹ. Do đó, giao cháu Thảo Nguyên cho bà Lan A nuôi là phù hợp với khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình. Ông L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[5] Về cấp dưỡng nuôi con, theo quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình thì cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Tuy nhiên, bà Lan A có đủ điều kiện nuôi con nên không yêu cầu ông L cấp dưỡng cho con, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6] Về tài sản chung: Bà Lan A tự thỏa thuận với ông L, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về nợ chung: Bà Lan A xác định không có.

[8] Về án phí: Bà Lan A phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 143, 147, 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Phan Thị Lan A và ông Nguyễn Phương L.

2. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Thảo Ng, sinh ngày 29/4/2007 cho bà Lan A trực tiếp nuôi dưỡng, ông L không phải cấp dưỡng nuôi con. Riêng cháu Nguyễn Hoàng Khôi N, sinh ngày 17/5/2005 đã trưởng thành. Ông L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Bà Lan A phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ngày 25/5/2023, bà Lan A đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003444 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau được đối trừ chuyển thu sung quỹ Nhà nước.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy đinh tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ