vanban.org

Bản án 188/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim C. Bà Nguyễn Thị Kim C được ly hôn với ông Lê Hữu P. Về con chung: Giao cháu Lê Gia K, sinh ngày 05/12/2012 cho ông Lê Hữu P trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục; Tạm thời, bà C không phải cấp dưỡng cho con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
  • Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ B
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 188/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 16/6/2023
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHAÂN DANH

NÖÔÙC COÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM

TOØA AÙN NHAÂN DAÂN THAØNH PHOÁ B- TÆNH ÑOÀNG NAI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Công Uẩn

Ông Phan Anh Dũng – CB hưu trí

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung – Thư ký Tòa án

nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai

tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thủy – Kiểm sát viên

Ngày 16 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 697/2023/TLST – HNGĐ ngày 23 tháng 03 năm 2023, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 185/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/6/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1995

Hộ khẩu thường trú: ấp K, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang

-Bị đơn: Ông Lê Hữu P, sinh năm 1989

Hộ khẩu thường trú: ấp K, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang

Tạm trú: tổ 8, khu phố 4, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai

(Bà C và ông P đều có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Lê Hữu P tự nguyện tìm hiểu và đi đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang vào tháng 7 năm 2014; có tổ chức đám cưới, hôn nhân tự nguyện. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu. Tuy nhiên sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng, thường xuyên xảy ra bất hòa, cả hai đã không còn tôn trọng lẫn nhau, nhiều lần cả hai cùng ngồi lại vì không muốn hạnh phúc gia đình tan vỡ, cố gắng giải quyết mâu thuẫn nhưng vẫn không có kết quả. Xét thấy, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, tình cảm của bà với ông P cũng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà xin được ly hôn với ông P để trả tự do cho nhau.

Về con chung: Trong quá trình chung sống bà và ông P có 01 người con chung là cháu Lê Gia K, sinh ngày 05/12/2012. Ly hôn, bà đồng ý giao cháu K cho ông P nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Tạm thời, bà không cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung: Bà và ông P trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà C trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Theo bản tự khai của ông Lê Hữu P trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông thống nhất ý kiến với nội dung trình bày trong đơn khởi kiện của bà C về việc cả hai tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn, mâu thuẫn vợ chồng nảy sinh sau đó. Nay ông xét thấy tình cảm của ông với bà C cũng không còn, cả hai cũng không thể sống chung được với nhau nữa. Do đó, nay bà C xin ly hôn với ông thì ông đồng ý.

Về con chung: Trong quá trình chung sống ông và bà C có 01 người con chung là cháu Lê Gia K, sinh ngày 05/12/2012. Ly hôn, ông có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu K. Tạm thời, ông không yêu cầu bà C cấp dưỡng cho con chung.

Về tài sản chung: Ông và bà C khai tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Ông P khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng quy định. Bị đơn thực hiện không đúng.

- Về việc giải quyết vụ án: Trong quá trình chung sống bà C và ông P có 01 con chung là cháu Lê Gia K, sinh ngày 05/12/2012. Ly hôn, hai bên thống nhất giao cháu K cho ông P nuôi dưỡng. Tạm thời, bà C không phải cấp dưỡng cho con. Về tài sản chung, nợ chung không đặt ra giải quyết. Bà C phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị Kim C nộp đơn yêu cầu giải quyết ly hôn với ông Lê Hữu P, sinh năm 1989, có địa chỉ cư trú tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Do đó, căn cứ vào các Điều 28, Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Qua nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng ông Lê Hữu P cung cấp bản tự khai và có đơn xin vắng mặt tại các buổi làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp chứng cứ, tiếp cận, công khai chứng cứ; hòa giải và phiên tòa; bà Nguyễn Thị Kim C sau đó cũng có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án đưa ra xét xử vắng mặt bà C và ông P.

Về quan hệ hôn nhân: Theo bà Nguyễn Thị Kim C khai thì bà và ông Lê Hữu P tự nguyện tìm hiểu và đi đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang vào tháng 7 năm 2014; có tổ chức đám cưới, hôn nhân tự nguyện. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu. Tuy nhiên sau đó cả hai vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng, thường xuyên xảy ra bất hòa, không còn tôn trọng lẫn nhau, nhiều lần cả hai đã cùng ngồi lại để hàn gắn vì không muốn hạnh phúc gia đình tan vỡ, cố gắng để giải quyết mâu thuẫn nhưng vẫn không có kết quả. Lời trình bày này của bà C cũng được ông P thừa nhận tại bản tự khai của ông P, đồng thời ông cũng thống nhất ly hôn. Do đó, xét thấy, cuộc sống hôn nhân của bà C - ông P không hạnh phúc trên thực tế, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không có khả năng hàn gắn. Do vậy, việc bà Nguyễn Thị Kim C xin ly hôn với ông Lê Hữu P là hoàn toàn có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Trong quá trình chung sống bà C và ông P có 01 con chung là cháu Lê Gia K, sinh ngày 05/12/2012. Ly hôn, hai bên thống nhất giao cháu K cho ông P trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Tạm thời, bà C không phải cấp dưỡng cho con; do đó, HĐXX ghi nhận sự thỏa thuận của bà C và ông P.

Về tài sản chung: Các đương sự đều khai tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

. Về nợ chung: Các đương sự đều khai không có, không yêu cầu giải quyết. Do đó, không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bà Nguyễn Thị Kim C phải nộp 300.000đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì caùc leõ treân,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 228, Điều 266, Điều 271 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ Điều 9, 11, 12 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;

Áp dụng Điều 9, Điều 19; Điều 53, Điều 56; Điều 71; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; khoản 1 Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim C. Bà Nguyễn Thị Kim C được ly hôn với ông Lê Hữu P.

- Về con chung: Giao cháu Lê Gia K, sinh ngày 05/12/2012 cho ông Lê Hữu P trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục; Tạm thời, bà C không phải cấp dưỡng cho con chung.

Vì không trực tiếp nuôi con, nên bà C được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Các đương sự đều khai tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu trường hợp phát sinh tranh chấp các bên có quyền khởi kiện bằng vụ án khác.

- Về nợ chung: Các đương sự đều khai không có, không yêu cầu giải quyết. Do đó, không đặt ra xem xét, giải quyết.

- Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Kim C phải nộp 300.000đ án phí, được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0006930 ngày 21/03/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B. Bà Nguyễn Thị Kim C đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm

- Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Kim C và ông Lê Hữu P có quyeàn khaùng caùo trong thời haïn 15 ngaøy keå töø ngaøy nhaän ñöôïc baûn aùn hoaëc được tống đạt hợp lệ bản án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ