vanban.org

Bản án 188/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Kiều Tr.

Về con chung: Giao cháu Trần Hạo N sinh ngày 15/8/2020 cho chị Tr được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; việc cấp dưỡng cho con không đặt ra. Anh Tùng A có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Về án phí: Chị Lê Thị Kiều Tr phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Kiều Tr - Trần Tùng A"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Kiều Tr.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 188/2023/HNGĐ-ST
Ngày 13 – 9 – 2023
“V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tiêu Hồng Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Thắng

Ông Phan Minh Sang

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Chúc Ni là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

Ngày 13 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 228/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 7 năm 2023 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 310/2023/QĐXXST–HNGĐ ngày 11 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Kiều Tr, sinh năm 2000; Địa chỉ cư trú: Khóm 5, thị trấn TB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. (vắng mặt)

- Bị đơn: Anh Trần Tùng A, sinh năm 1991; Địa chỉ cư trú: Khóm 5, thị trấn TB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 04/7/2023, nguyên đơn chị Lê Thị Kiều Tr trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Trần Tùng A tự tìm hiểu và được gia đình hai bên tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện U Minh. Trong quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cãi nhau, không có tiếng nói chung, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, nên đã ly thân nhau. Chị Tr xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không thể kéo dài nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Tùng A.

Về con chung: Chị Tr xác định chị và anh Tùng A có 01 người con tên Trần Hạo N sinh ngày 15/8/2020, hiện đang sống cùng với chị. Khi ly hôn chị Tr yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu N, không yêu cầu anh Tùng A cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung: Chị Tr xác định không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị Tr xác định trong thời gian chung sống vợ chồng không có nợ ai và cũng không ai nợ lại vợ chồng, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án trực tiếp tống đạt thông báo thụ lý vụ án cho anh Trần Tùng A nhưng anh Tùng A không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của chị Tr, không tham gia hòa giải và xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Chị Lê Thị Kiều Tr có đơn xin xét xử vắng mặt; anh Trần Tùng A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị Tr, anh Tùng A.

Về hôn nhân: Chị Tr với anh Tùng A tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn. Tại Điều 8 và Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, thì mối quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị Kiều Tr với anh Trần Tùng A được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Về nguyên nhân mâu thuẫn: Theo chị Tr xác định trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cãi nhau, không có tiếng nói chung, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, nên đã ly thân nhau. Chị Tr xác hôn nhân giữa chị với anh Tùng A không thể kéo dài nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Tùng A; đối với anh Trần Tùng A, mặc dù đã biết được nội dung khởi kiện xin ly hôn của chị Tr nhưng anh Tùng A không có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị Tr, điều này cho thấy anh Tùng A đã không mong muốn hàn gắn mối quan hệ hôn nhân này nữa. Từ đó cho thấy hôn nhân của chị Tr với anh Tùng A đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu của chị Tr, cho chị Tr được ly hôn với anh Tùng A là phù hợp.

Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng có 01 người con tên Trần Hạo N sinh ngày 15/8/2020. Khi ly hôn chị Tr yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu N; đối với anh Tùng A không có ý kiến về việc nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét thấy từ khi anh Tùng A và chị Tr ly thân cho đến nay cháu N do chị Tr trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 giao cháu N cho chị Tr được tiếp tục nuôi dưỡng là có căn cứ; đối với việc cấp dưỡng cho con chị Tr không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Tr xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ ai và không ai nợ lại vợ chồng, không yêu cầu Tòa án giải quyết; đối với anh Tùng A không có ý kiến gì về tài sản chung và nợ chung, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí: Chị Lê Thị Kiều Tr phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; khoản 2 Điều 81 và Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Kiều Tr. Cho chị Lê Thị Kiều Tr được ly hôn với anh Trần Tùng A.

2. Về con chung: Giao cháu Trần Hạo N sinh ngày 15/8/2020 cho chị Tr được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; việc cấp dưỡng cho con không đặt ra. Anh Tùng A có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Lê Thị Kiều Tr phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0003761 ngày 04/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình; chị Tr đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Tr, anh Tùng A có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ