vanban.org

Bản án 188/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện bà Nguyễn Thị Mỹ A.

Buộc bà Trương Tuyết B có nghĩa vụ hoàn trả cho bà A số tiền nợ hụi là 100.000.000đồng (một trăm triệu đồng) và 10 (mười) chỉ vàng 24K, trả ngay khi án có hiệu lực pháp luật. Kể từ ngày bà A có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà B chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ, thì hàng tháng bà B còn phải trả thêm ph… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "bà A kiện bà B"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện bà Nguyễn Thị Mỹ A.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 166 Bộ luật Dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ CÔNG TÂY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 188/2023/DS-ST
Ngày: 03/7/2023
V/v tranh chấp “Hợp đồng góp hụi và đòi tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG TÂY- TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Vũ Hoài Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Trần Thu Hồng;

2/ Bà Trần Kim Chi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Tây: Không tham gia phiên tòa.

Ngày 03 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 47/2023/TLST-DS ngày 23/02/2023 về việc tranh chấp “Hợp đồng góp hụi và đòi tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2023/QĐXXST-DS ngày 23/5/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 54/2023/QĐST-DS ngày 15/6/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ A, sinh năm 1960 (có mặt).

Địa chỉ: ấp L, xã Đ, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: Bà Trương Tuyết B, sinh năm 1954 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp L, xã Đ, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 22/02/2023, tại bản tự khai và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn là bà A trình bày: Vào ngày 24/03/2022(AL), phía bà B có hỏi mượn Bà số vàng là 10 chỉ vàng 24K, hẹn khi nào bán thanh long sẽ trả lại nhưng đến nay phía bà B không trả cho Bà mặc dù bà B đã bán thanh long xong.

Ngoài ra, bà B có tham gia chơi hụi do Bà làm chủ hụi, cụ thể: Hụi khui ngày 10/9/2021 (AL), hụi 10.000.000 đồng/tháng, hụi gồm 18 phần, bà B tham gia 01 phần, bà B hốt hụi ở kỳ hụi thứ 05, hốt được 142.050.000 đồng và đóng hụi chết được 03 kỳ hụi chết, còn lại 10 kỳ, thì bà B ngưng không đóng nữa với số tiền còn nợ là 100.000.000 đồng.

Tổng cộng bà B còn nợ bà là 10 chỉ vàng 34K và số tiền hụi là 100.000.000 đồng. Bà đã nhiều lần tìm phía bà B để đòi nợ nhưng không được.

Do đó, nay bà A yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà B phải trả số tiền nợ hụi là 100. 000.000 đồng và 10 chỉ vàng 24K, trả ngay khi án có hiệu lực pháp luật và không yêu cầu tính lãi.

* Phần trình bày ý kiến của bị đơn là bà Trương Tuyết B: Tòa án không thu thập được tài liệu, chứng cứ từ phía bà B và bà B vắng mặt suốt trong quá trình giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà A có đơn khởi kiện đối với bà B. Bà B có địa chỉ tại địa bàn huyện Gò Công Tây nên căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 điều 35 và điểm a khoản 1 điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang.

. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà A khởi kiện bà B để tranh chấp hợp đồng góp hụi và đòi vàng. Căn cứ vào Điều 471 và 166 Bộ Luật dân sự nên quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp “Hợp đồng góp hụi và đòi tài sản”.

. Về yêu cầu đương sự: Tại phiên tòa hôm nay, phía bà A vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Xét yêu cầu khởi kiện của bà A, Hội đồng xét xử nhận định: Giao dịch hụi và mượn tài sản giữa bà A và bà B là có thật. Bà A căn cứ vào danh sách hụi, biên nhận nhận vàng và các xác nhận của các hụi viên để khởi kiện phía bà B nên bà A có đủ cơ sở chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình.

Đối với phía bà B, Bà vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án mặc dù Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định pháp luật, không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của bà A nên xem như bà B từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình và mặc nhiên thừa nhận yêu cầu khởi kiện của bà A.

. Về yêu cầu tính lãi: Từ khi thụ lý đến khi xét xử, đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét đến.

Xét lời trình bày của phía bà A là có cơ sở, phù hợp quy định pháp luật, và phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà A được miễn tiền tạm ứng án phí.

Bà B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, giá vàng được tính là 5.500.000đồng/01chỉ.

. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227; Điều 228; Điều 264; Điều 266; Điều 267; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng các Điều 471, Điều 166 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự;

- Áp dụng Nghị định số 19/2019/NĐCP ngày 19/02/2019 của Chính phủ;

- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện bà Nguyễn Thị Mỹ A.

Buộc bà Trương Tuyết B có nghĩa vụ hoàn trả cho bà A số tiền nợ hụi là 100.000.000đồng (một trăm triệu đồng) và 10 (mười) chỉ vàng 24K, trả ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày bà A có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà B chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ, thì hàng tháng bà B còn phải trả thêm phần tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.

2. Về án phí: Buộc bà Trương Tuyết B phải chịu 7.750.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án, riêng đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ