- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "tranh chấp HD chuyển nhượng với Trần Ngọc Nh- Nguyễn Thị H"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN T NH N THÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 188/2023/DS-PT Ngày 21- 4 - 2023 V/v: “Tranh chấp về dân sự ranh giới quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất; tranh chấp hợp đồng dân sự tặng cho, chuyển nhượng quyền sử đất; yêu cầu sử dụng lối đi qua bất động sản liền kề”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘN HÒA XÃ HỘI CHỦ N HĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN T NH N THÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Chí Tâm
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Vĩnh
Ông Nguyễn Chí Dững
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mân - Thư k T a án nhân dân t nh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân t nh Đồng Tháp: Bà Huỳnh Thị Đạm
- Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Trong ngày 21 tháng 4 năm 2023 tại Trụ s T a án nhân dân t nh Đồng Tháp t ử phúc th m công khai vụ án thụ l số: số 44/2023/TLPT-DS ngày 17 tháng 02 năm 2023, về việc “Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất, QSD đất, Hợp đồng tặng cho QSD đất, Yêu cầu lối đi qua bất động sản liền kề”.
Do bản án dân sự sơ th m số: 113/2022/DS-ST ngày 16 tháng 12 năm 2022 của T a án nhân dân thành phố C L bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra t ử phúc th m số: 136/2023/QĐ-PT ngày 02 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Trần Ngọc Nh, sinh năm 1985.
Địa ch : Số o, Nguyễn V, Phường u, thành phố CL, t nh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp: Dương Minh T, sinh năm 1988,
Địa ch : Số r, đường Cái M, tổ 6, ấp 1, ã M, thành phố CL, t nh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Nguyễn Thị H, sinh năm 1937.
Địa ch : Tổ 12, khóm Thuận P, phường H a T, thành phố C L, t nh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp: Anh Hồ Minh Th, sinh năm 1974,
Địa ch : Sốt đường V, Phường e, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Nguyễn Minh Nh, sinh năm 1990;
Địa ch : Tổ 13, ấp Tịnh M, ã Tịnh T, thành phố CL, t nh Đồng Tháp.
2. Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1996;
Địa ch : Tổ 30, Khóm ư, Phường q, thành phố CL, t nh Đồng Tháp.
3. Trần Thị M, sinh năm 1928;
4. Nguyễn Văn T, sinh năm 1973;
5. Nguyễn Vũ Quỳnh D, sinh năm 1973;
Cùng địa ch : Tổ 11, ấp H a L, ã H, thành phố C L, t nh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp của bà M, ông T, bà D: Trần Đình H, sinh năm 1989,
Địa ch : đường N, Phường s, thành phố C L, Đồng Tháp.
6. Nguyễn Thị Ch, sinh năm 1970;
Địa ch : Tổ 12, khóm Th, phường H T, thành phố CL , t nh Đồng Tháp
7. Nguyễn Thị Hồng Th, sinh năm 1961;
Địa ch : Số Nc, phường H a Th, thành phố C L, t nh Đồng Tháp.
8. Nguyễn Văn T, sinh năm 1963;
Địa ch : Nguyễn T, phường H, thành phố C L, t nh Đồng Tháp.
9. Nguyễn Nhựt Nh, sinh năm 1969;
Địa ch : Số i, Nguyễn T, phường H a T, thành phố C L, t nh Đồng Tháp.
10. Nguyễn Thị T, sinh năm 1971;
Địa ch : Sốyy Tổ 5, ấp Đông Th, ã Tân Thuận Đ, thành phố CL, t nh Đồng Tháp.
11. Nguyễn Thị Nt, sinh năm 1974;
Địa ch : , Nguyễn Thái H, phường H a Th, thành phố CL, t nh Đồng Tháp.
12. Nguyễn Thành Q, sinh năm 1977;
Địa ch : S1 Nguyễn T, phường H a T, thành phố CL, t nh Đồng Tháp.
13. Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1980;
Địa ch : Số r3 Nguyễn Th, phường H a Th, thành phố CL, t nh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp bà Th, ông T, ông Nh, ông Ti, bà N, ông Q, bà Nh: Anh Hồ Minh Th, sinh năm 1974,
Địa ch : Số , đường Vũ T, Phường q, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
14. Nguyễn Văn Kh, sinh năm 1953;
15. Nguyễn Văn T, sinh năm 1992;
16. Nguyễn Thị C m T, sinh năm 1996.
Cùng địa ch : Tổ 11, ấp H, ã H, thành phố CL, t nh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp của ông Kh, anh T, chị T: Trần Đình H, sinh năm 1989,
17. Ủy ban nhân dân thành phố C L;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Phan Thành M, chức vụ: Chủ tịch.
18. S Tài nguyên và Môi trường Đ.
Địa ch : Số , Quốc lộ ưd, ã An B, huyện CL, t nh Đồng Tháp.
Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị H .
NỘI DUN VỤ ÁN
- Nguyên đơn Trần Ngọc Nh và Ngư i đại diện h p pháp anh Dương Minh T trình bày:
Ngày 27/8/2019, anh Nh có nhận chuyển nhượng của anh Nguyễn Minh Nh diện tích đất 170m2, thuộc thửa 572, t bản đồ số 06, tọa lạc tại phường a T, thành phố C L; hai bên đã thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng theo quy định và anh Nh đã được S tài nguyên và môi trường t nh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng ngày 13/9/2019. Khi bàn giao đất giữa anh Nh và anh Nh thì đã cấm trụ đá ranh với bà Hi; trụ ranh này cách bức tường 0,5m về phía đất bà Hi. Bức tường do ông T là người chuyển nhượng đất cho anh Nh ây dựng trước đó, bà H không có kiến; đến năm 2020 thì bà H đã nhổ trụ ranh dẫn đến phát sinh tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất.
Đầu năm 2020 anh Nh đo đạc để ác định ranh giới quyền sử dụng đất giáp với bà H đúng với giấy chứng nhận quyền sử dụng được cấp, khi cấm trụ ranh thì bà H không thống nhất ranh giới và yêu cầu anh Nh phải giao trả cho bà H diện tích 10m2 (ngang 0,5m, dài 20m) thì bà Hai mới đồng cấm trụ đá, vì bà Hai cho rằng phần diện tích đất này thuộc quyền sử dụng của bà H. Diện tích đất 10m2 là thuộc một phần thửa 572, t bản đồ số 06 thuộc quyền sử dụng của anh Nh, nhưng bà H không đồng cho anh Nh sử dụng.
Anh Nh kiện yêu cầu bà H trả lại diện tích đất 10,6m2, (theo diện tích đo đạc thực tế), thuộc một phần thửa 572, t bản đồ số 06 và rút lại phần yêu cầu đối với yêu cầu bà Hcho sử dụng lối đi diện tích 23,6m2 thuộc thửa 720, tờ bản đồ số 6, tọa lạc phường H a T, thành phố CL, Đồng Tháp.
Trong quá trình thu thập chứng cứ, giải quyết vụ án (sau khi T a án em t, th m định) thì bà H có làm hàng rào chất liệu bằng tre cao 2,1m, chiều dài 8,62m trên diện tích đất của anh Nh, chắn ngang lối đi từ đất tranh chấp ra vĩa hè. Do đó, bà H phải di dời hàng rào ra khỏi đất anh Nhn để sử dụng đúng ranh giới.
Trường hợp T a án chấp nhận yêu cầu của bà H hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 170m2, thuộc thửa 572, t bản đồ số 06, tọa lạc tại phường H T, thành phố CL, anh Nh và anh Nh sẽ tự thỏa thuận hậu quả pháp l của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nếu không thỏa thuận được thì sẽ kh i kiện thành vụ án khác, không yêu cầu T a án giải quyết trong vụ án này.
- Bị đơn Nguyễn Thị H; (anh Hồ Minh Th và chị Nguyễn Thị Ch đại diện) trình bày:
Nguồn gốc đất tranh chấp là của cha mẹ của ông Nguyễn Văn M (chồng bà H) để lại cho ông Mi, bà H sử dụng từ năm 1954. Năm 2005, ông Mi và bà H cho bà Trần Thị M nhờ trên đất này, do bà M thuộc hộ nghèo, nên Mặt trận tổ quốc phường H a T có vận động ông M, bà H cho bà M diện tích đất 32m2 (ngang 04m, dài 08m) để bà M đủ điều kiện được Ủy ban nhân dân phường H a Thuận ây nhà tình thương cho bà Mai. Trong quá trình sử dụng đất thì bà Mai có ây dựng cơi, nới rộng thêm như diện tích đất hiện nay, và có ây dựng bức tường rào trên đất, khi ông Tạo ây dựng bức tường, bà H có hỏi thì ông T nói ây nhằm để ngăn gà, vịt không cho qua lại. Do bà H không hiểu biết pháp luật nên bà không đăng k quyền sử dụng đất phần đất tranh chấp thuộc thửa 572, t bản đồ số 06. Khi T a án giải quyết tranh chấp thì bà H mới biết bà Mđược cấp quyền sử dụng đất, sau đó tặng cho ông T và ông T chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh Nh, anh Nh chuyển nhượng lại cho anh Nh. Bà H ch cho bà M diện tích đất 32m2, nhưng không biết vì sao bà M lại đăng k quyền sử dụng đất 170m2 và sau đó tặng cho con là ông Nguyễn Văn T.
Do bà M có hành vi gian dối trong việc đăng k quyền sử dụng đất từ 32m2 thành 170m2. Nay bà Hai (anh Th và chị Ch đại diện) yêu cầu T a án giải quyết cụ thể:
Hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, lập ngày 19/11/2007 giữa bà M với ông T 12/10/2007 của Ủy ban nhân dân thành phố C L cấp cho bà Mi và cập nhật sang tên ông T ngày 12/12/2007;
Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 27/8/2019, giữa anh Nh với anh Nh, đồng thời hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ: 875548, ngày 28/02/2019 của S tài nguyên môi trường t nh Đ cấp cho anh Nh và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT083049, ngày 13/9/2019 của S tài nguyên môi trường t nh Đ, cấp cho ông Nh.
Diện tích đất 170m2 nêu trên thuộc quyền sử dụng đất của hộ gia đình bà H và ông Nguyễn Văn M (đã chết năm 2013); hộ bà H và ông M gồm: Bà Nguyễn Thị Hồng Th, ông Nguyễn Văn T, ông Nguyễn Nhựt Nh, bà Nguyễn Thị Ch, bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Thành Q, bà Nguyễn Thị Kim Nh (tất cả đều là con của ông M và bà H).
Bà H không đồng cho anh Nh sử dụng lối đi diện tích 23,6m2, thuộc thửa 720, tờ bản đồ số 6, tọa lạc phường H a T, thành phố CL.
Trong quá trình thu thập chứng cứ, giải quyết vụ án thì bà H có làm hàng rào chất liệu bằng tre cao 2,1m trên đất đang tranh chấp, hiện rào hiện không c n giá trị sử dụng.
- Ngư i có quyền l i, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Mi, Nguyễn Văn T, Nguyễn Vũ Quỳnh D (anh Trần Đình H đại diện) trình bày:
Diện tích đất 170m, thuộc thửa 572, t bản đồ số 06, có nguồn gốc là của cha, mẹ bà M để lại từ năm 1975; bà M ây nhà cây tạm để , không nhớ thời gian cụ thể. Năm 2005, ông T ây dựng bức tường làm ranh giới với bà H, khi ây dựng do thợ hồ dây dựng không đúng vị trí ranh, nên bức tường nằm cách ranh giới với đất bà H 0,5m. Ranh giới quyền sử dụng đất giữa ông Tạo và bà H cách bức tường 0,5m về phía đất bà H. Đến khoảng năm 2005 đến 2006 (không nhớ cụ thể) bà M ây nhà tường chiều ngang khoảng 07, dài khoảng 12m, do Ủy ban nhân dân ã H a An (nay là Phường H a T) hỗ trợ tiền. Ngày 12/10/2007 bà M được cấp quyền sử dụng đất; ngày 12/12/2007 bà M tặng cho con là ông Nguyễn Văn T đứng tên quyền sử dụng. Năm 2019, ông T chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất nêu trên cho anh Nguyễn Minh Nh và đã di dời nhà đi để giao đất cho anh Nh; hiện nay vẫn c n phần bó nền và bức tường ây.
Anh H đại diện bà M, ông T và bà D không có kiến đối với yêu cầu kh i kiện của anh Nh, và không đồng theo yêu cầu phản tố của bà H, vì bà M, ông T được cấp quyền sử dụng đất hợp pháp và chuyển nhượng cho anh Nh phù hợp với pháp luật.
Trường hợp T a án chấp nhận yêu cầu của bà H hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 170m2, thuộc thửa 572, t bản đồ số 06, tọa lạc tại phường H Th, thành phố CL; ông T và anh Nh sẽ tự thỏa thuận hậu quả pháp l của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng, không yêu cầu T a án giải quyết trong vụ án này.
- Ngư i có quyền l i, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Minh Nh trình bày:
Năm 2019, gia đình ông T có vay tiền của anh Nh nhiều lần, tổng cộng 600.000.000 đồng, do không có khả năng trả nên ông T chuyển nhượng cho Nh diện tích đất 170m2, thuộc thửa 572, t bản đồ số 06. Đến ngày 13/9/2019, anh Nh cần tiền nên đã thoả thuận và làm thủ tục chuyển nhượng lại cho anh Trần Ngọc Nh toàn bộ diện tích đất nêu trên cũng giá 600.000.000 đồng, anh Nh đã được cấp quyền sử dụng đất theo quy định, anh Nh cũng đã giao đất cho anh Nh xong. Khi anh Nh nhận chuyển nhượng diện tích đất nêu trên từ ông T thì có con của bà H là bà N cũng biết việc chuyển nhượng này, nhưng cũng không nghe bà N nói gì về nguồn gốc đất.
Trường hợp T a án chấp nhận yêu cầu của bà H hủy hợp đồng chuyển nhượng và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 170m2, thuộc thửa 572, t bản đồ số 06, tọa lạc tại phường HTh, thành phố C L. Anh Nh với anh Nh sẽ tự thỏa thuận hậu quả pháp l của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nếu không thỏa thuận được thì sẽ kh i kiện thành vụ án khác, không yêu cầu T a án giải quyết trong vụ án này.
- Ngư i có quyền l i, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Hồng Th, Nguyễn Văn T, Nguyễn Nhựt Nh, Nguyễn Thị Tt, Nguyễn Thị Nt, Nguyễn Thành Qu, Nguyễn Thị Kim Nh (anh Hồ Minh Th đại diện) và Nguyễn Thị Ch trình bày:
Thống nhất với kiến trình bày và yêu cầu của bà Nguyễn Thị H.
* Bản án dân sự sơ thẩm số 113/2022/DS-ST ngày 16 tháng 12 năm 2022 của của Tòa án nhân dân thành phố C quyết định:
1. Căn cứ Điều 244 Bộ luật dân sự năm 2015;
Điều 175 Bộ luật dân sự năm 2015;
Điều 202, 203 Luật đất đai năm 2013;
Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
2. Đình ch yêu cầu của anh Trần Ngọc Nh (anh Dương Minh T đại diện), đối với yêu cầu được sử dụng lối đi diện tích 23,6m2, thuộc thửa 720, tờ bản đồ số 6, tọa lạc phường H a T, thành phố CL, Đồng Tháp.
3. Không chấp nhận yêu cầu của anh Trần Ngọc Nh (anh Dương Minh T đại diện), yêu cầu bà Nguyễn Thị H trả diện tích đất 10,6m2, thuộc thửa 572, tờ bản đồ số 6, tọa lạc phường H, thành phố C L, Đồng Tháp.
4. Nối từ mốc T1 đến T2 theo Sơ đồ đo đạc, ngày 03/02/2021 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên môi trường t nh Đ, là ranh giới quyền sử dụng đất giữa diện tích đất thuộc thửa 572, tờ bản đồ số 6, do anh Trần Ngọc Nh đứng tên quyền sử dụng với diện tích đất thuộc thửa 722, tờ bản đồ số 6, cùng tọa lạc phường H a Th, thành phố C, do bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn M(đã chết) đứng tên quyền sử dụng. Ranh giới quyền sử dụng đất được ác định từ không gian đến l ng đất theo chiều thẳng đứng.
- Bà Nguyễn Thị H có trách nhiệm di dời hàng rào tre cao 2,1m, chiều dài 8,62m từ Mốc T1 đến M1 theo Sơ đồ đo đạc, ngày 03/02/2021 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên môi trường t nh Đ, ra khỏi diện tích đất thuộc thửa 572, tờ bản đồ số 6, tọa lạc phường H a T, thành phố C , Đồng Tháp.
5. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị H (anh Tha và chị Ch đại diện), đối với yêu cầu hủy các hợp đồng, gồm: Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, lập ngày 19/11/2007 giữa bà Nguyễn Thị M với ông Nguyễn Văn T; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, lập ngày 27/8/2019, giữa anh Nguyễn Minh Nh với anh Trần Ngọc Nh, đối với diện tích đất thuộc thửa 572, tờ bản đồ số 6, tọa lạc phường H a Th, thành phố C L, Đồng Tháp. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị H, yêu cầu hủy các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gồm: Giấy chứng nhận số AL461492, ngày 12/10/2007 của Ủy ban nhân dân thành phố C L cấp cho bà M và cập nhật sang tên ông T ngày 12/12/2007, Giấy chứng nhận số CQ: 875548, ngày 28/02/2019 của S tài nguyên môi trường t nh Đồng Tháp cấp cho anh Nh và Giấy chứng nhận số CT: 083049, ngày 13/9/2019 của S tài nguyên môi trường t nh Đồng Tháp, cấp cho anh Nh.
6. Về chi phí em t th m định tại chỗ và định giá: Anh Nh phải chịu số tiền 5.930.500 đồng, anh Nh đã nộp tạm ứng và đã chi ong.
7. Về án phí dân sự sơ th m: Anh Nh phải chịu 300.000 đồng, nhưng được khầu trừ vào tiền tạm ứng đã nộp 800.000 đồng, theo biên lai số theo biên lại số 0007285, ngày 20/10/2020 và biên lai số 0005685, ngày 19/5/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố C Lh, anh Nh được nhận được nhận lại tiền chênh lệch 500.000 đồng.
- Bà H là người cao tuổi được miễn toàn bộ tiền án phí.
Ngoài ra bản án c n tuyên quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự. Sau khi t ử sơ th m bà H kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ th m để thu thập thêm chứng cứ em t giải quyết lại nội dung vụ án;
Tại phiên t a phúc th m có mặt anh Th, anh H, anh T. Các đương sự có mặt và khẳng định đã uất trình thêm đầy đủ chứng cứ cho T a án giải quyết vụ án và không có khiếu nại yêu cầu gì thành phần những người tham gia tố tụng.
- Anh Th trình bày: Bà H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo là yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà M để hủy các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Bà H, ông M là người sử dụng đất từ năm 1954 đến nay. Đề nghị thu thập chứng cứ nguồn gốc thửa đất 572. Về tố tụng có yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì th m quyền của T a án T nh chứ không phải T a án nhân dân thành phố CL. Do đó yêu cầu hủy bản án sơ th m.
- Anh T trình bày: Thống nhất theo bản án sơ th m không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà H.
- Anh H trình bày: Đất của bà H là cha mẹ chồng để lại; ranh đất hai bên khi làm thủ tục đăng k quyền sử dụng đất đã có k ranh đất với nhau. Đất đã sử dụng ổn định và bà H không có chứng cứ sử dụng phần đất tranh chấp cũng như việc bà H cho bà M nhờ nên đề nghị giữ nguyên bán sơ th m.
Tại phiên t a đại diện Viện kiểm sát phát biểu kiến về việc tuân theo pháp luật của Th m phán, Hội đồng t ử, Thư k đã chấp hành đúng theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng có mặt thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Về nội dung giải quyết vụ án t yêu cầu kháng cáo của bà H là không có cơ s chấp nhận. Đề nghị giữ nguyên bản án sơ th m.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên t a và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên t a, kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Không có đương sự khiếu nại gì về thành phần những người tham gia tố tụng hay có yêu cầu gì khác.
[2] Về nội dung tranh chấp: Đất tranh chấp các đương sự đang sử dụng và đều đã được cấp quyền sử dụng đất.
X t yêu cầu của nguyên đơn: anh Nh rút lại yêu cầu sử dụng lối đi đối, với diện tích 23,6m2, thuộc thửa 720, tờ bản đồ số 6, tọa lạc phường H a T, thành phố CL, nên đình ch phần này.
- Theo anh Nh thì khi anh Nh bàn giao đất năm 2019 đã cắm trụ ranh, bà H không có kiến. Đến năm 2020, bà H đã nhổ trụ đá dẫn đến phát sinh tranh chấp. X t thấy, trong quá trình sử dụng dụng đất, năm 2005 ông T đã ây dựng bức tường ranh giới, bức tường hiện nay vẫn c n, anh Nh trình bày ranh giới quyền sử dụng đất cách bức tường 0,5m về phía đất bà H, nhưng không có chứng cứ chứng minh. Do đó, yêu cầu của anh Nh, yêu cầu bà H trả diện tích đất 10,6m2 là không có căn cứ chấp nhận, giữ nguyên hiện trạng sử dụng, ranh giới quyền sử dụng đất giữa anh Nh và bà H là bức tường hiện trạng (Mốc T1 đến T2 theo Sơ đồ đo đạc, ngày 03/02/2021 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên môi trường t nh Đồng Tháp).
[3] X t yêu cầu của phản tố của bị đơn: Theo anh Th, chị Ch, đại diện bà H trình bày, năm 2005 bà Hai cho bà Mai diện tích đất ngang 4m, dài 8m để ây dựng nhà tình thương; nhưng sau đó bà M, ông T ây dựng nhà có cơi nới thêm lớn hơn và đăng k quyền sử dụng 170m2.
X t thấy, theo biên bản và Sơ đồ em t, th m định tại chỗ thì trên diện tích đất tranh chấp hiện nay có bó nền chiều ngang 6,6m, chiều dài 12,2m và bức tường ây dài 21,69m, phù hợp với lời trình bày của bà M, ông T trình bày ây dựng nhà diện tích chiều ngang 07m, chiều dài 12m và ây dựng bức tường ranh giới, bức tường này ngăn cách toàn bộ diện tích đất 173,6m2 (theo đo đạc thực tế), thuộc thửa 572 với diện tích đất thuộc thửa 722 của bà H; nhưng bà H không tranh chấp và cũng không có kiến. Năm 2009, bà Hai đăng k quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 722, bà Hai cũng không đăng k quyền sử dụng đất đối với phần đất tranh chấp thửa 572.
Bà M được Ủy ban nhân dân thành phố C cấp quyền sử dụng đất đúng theo trình tự thủ tục và sử dụng đất đúng với vị trí, diện tích được cấp quyền sử dụng. Trong quá trình sử dụng đất, ông T, bà M ây dựng nhà , ây bức tường ranh giới từ năm 2005 đến nay; bà Hai không tranh chấp và không có kiến. Bà H cũng không đăng k quyền sử dụng đất đối với diện tích đất tranh chấp. Do đó, yêu cầu của bà H không có căn cứ chấp nhận.
X t thủ tục cấp quyền sử dụng đất cho bà M: Thủ tục cấp quyền sử dụng đất cho bà M diện tích đất thuộc thửa 572, t bản đồ số 06, tọa lạc phường H Thn, đúng theo trình tự thủ tục quy định, trong quá trình sử dụng đất không ai tranh chấp hay khiếu nại.
Từ những phân tích trên, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà H, yêu cầu hủy các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gồm: Giấy chứng nhận số AL461492, ngày 12/10/2007 của UBND thành phố CL cấp cho bà M và cập nhật sang tên ông Tạo ngày 12/12/2007, Giấy chứng nhận số CQ: 875548, ngày 28/02/2019 của S tài nguyên môi trường t nh Đồng Tháp cấp cho anh Nh và Giấy chứng nhận số CT: 083049, ngày 13/9/2019 của S tài nguyên môi trường t nh Đồng Tháp cấp cho anh Nh.
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà H, yêu cầu hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 19/11/2007, giữa bà M với ông T, và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 27/8/2019 giữa anh Nh với anh Nh.
Trong quá trình thu thập chứng cứ, giải quyết vụ án thì bà H có làm hàng rào bằng tre trên phần đất thuộc quyền sử dụng của anh Nh, do đó bà H phải có trách nhiệm di dời.
[4] Ngoài ra bản án c n quyết định về án phí; chi phí em t, th m định tại chỗ và định giá tài sản. Sau khi t ử sơ th m bà H kháng cáo bản án dân sự sơ th m với yêu cầu t lại nội dung vụ án; hủy bản án sơ th m. Tuy nhiên bà Hai không cung cấp chứng cứ gì khác chứng minh yêu cầu kháng cáo của mình.
[5] Qua các chứng cứ có trong hồ sơ và th m tra tại phiên t a phúc th m t thấy yêu cầu kháng cáo của bà H, không có căn cứ chấp nhận b i ngoài những nhận định của T a án cấp sơ th m thì bà H không cung cấp chứng cứ gì chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình.
Đồng thời, Hội đồng t ử phúc th m c n t thấy: Đối với việc đăng k quyền sử dụng đất bà H cũng không biết việc đăng k quyền sử dụng đất của ông M và bà H trong đó có nội dung gì (nội dung trong đó có ông T k tên giáp ranh đất). Gia đình bà H cũng không có chứng cứ chứng minh sử dụng phần đất tranh chấp đến năm 2005 khi cho gia đình bà M cách nhà tạm; cũng như việc trình bày cho bà M mượn nhờ trên đất. C n căn nhà theo bà H cho bà M cất nhà vào năm 2005 ch có 4m 8m là 32m2 nhưng khi đăng k quyền sử dụng đất năm 2007 thì được ghi nhận là có căn nhà diện tích là 6m x 14m; nhà phụ, sân phơi là 170m2. Gia đình bà H cũng không có ngăn cản việc sử dụng đất, chuyển nhượng đất của bà M. Đối với th m quyền giải quyết tranh chấp vụ án do đất tranh chấp thông qua các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và không cần thiết phải hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên thuộc th m quyền của T a án Thành phố CL là đúng quy định pháp luật. X t việc thu thập hồ sơ cấp quyền sử dụng đất cho bà M đã đầy đủ để giải quyết vụ án.
Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng t ử phúc th m quyết định giữ nguyên bản án sơ th m. Chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Các phần c n lại của bản án sơ th m không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[6] Về án phí dân sự phúc th m: Do giữ nguyên bản án sơ th m nên bà H phải chịu án phí dân sự phúc th m. Tuy nhiên, bà H là người cao tuổi và có đơn in miễn nộp án phí nên được miễn án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 308; Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l , sử dụng án phí, lệ phí T a án.
Tuyên ử:
Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị H.
Giữ nguyên bản án sơ th m.
2. Đình ch yêu cầu của anh Trần Ngọc Nh đối với yêu cầu được sử dụng lối đi diện tích 23,6m2, thuộc thửa 720, tờ bản đồ số 6, tọa lạc phường H, thành phố C L, Đồng Tháp.
3. Không chấp nhận yêu cầu của anh Trần Ngọc Nh yêu cầu bà Nguyễn Thị H trả diện tích đất 10,6m2, thuộc thửa 572, tờ bản đồ số 6, tọa lạc phường H a Th, thành phố C L, Đồng Tháp.
4. Nối từ mốc T1 đến T2 theo Sơ đồ đo đạc, ngày 03/02/2021 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên môi trường t nh Đồng Tháp, là ranh giới quyền sử dụng đất giữa diện tích đất thuộc thửa 572, tờ bản đồ số 6, do anh Trần Ngọc Nh đứng tên quyền sử dụng với diện tích đất thuộc thửa 722, tờ bản đồ số 6, cùng tọa lạc phường H a Th, thành phố C L, do bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn M (đã chết) đứng tên quyền sử dụng. Ranh giới quyền sử dụng đất được ác định từ không gian đến l ng đất theo chiều thẳng đứng.
- Bà Nguyễn Thị H có trách nhiệm di dời hàng rào tre từ mốc T1 đến M1 theo Sơ đồ đo đạc, ngày 03/02/2021 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên môi trường t nh Đồng Tháp, ra khỏi diện tích đất thuộc thửa 572, tờ bản đồ số 6, tọa lạc phường H a Thuận, thành phố C L, Đồng Tháp.
5. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị H đối với yêu cầu hủy các hợp đồng, gồm: Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, lập ngày 19/11/2007 giữa bà Nguyễn Thị Ma với ông Nguyễn Văn T; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, lập ngày 27/8/2019, giữa anh Nguyễn Minh Nh với anh Trần Ngọc Nh, đối với diện tích đất thuộc thửa 572, tờ bản đồ số 6, tọa lạc phường H a Th, thành phố C L, Đồng Tháp. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị H, yêu cầu hủy các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gồm: Giấy chứng nhận số AL461492, ngày 12/10/2007 của Ủy ban nhân dân thành phố C Lh cấp cho bà M và cập nhật sang tên ông T ngày 12/12/2007, Giấy chứng nhận số CQ: 875548, ngày 28/02/2019 của S tài nguyên môi trường t nh Đồng Tháp cấp cho anh Nh và Giấy chứng nhận số CT: 083049, ngày 13/9/2019 của S tài nguyên môi trường t nh Đ, cấp cho anh Nh.
6. Về chi phí em t th m định tại chỗ và định giá: Anh Nhịn phải chịu số tiền 5.930.500 đồng, anh Nhịn đã nộp tạm ứng và đã chi ong.
7. Về án phí dân sự sơ th m: Anh Nh phải chịu 300.000 đồng, nhưng được khầu trừ vào tiền tạm ứng đã nộp 800.000 đồng, theo biên lai số theo biên lại số 0007285, ngày 20/10/2020 và biên lai số 0005685, ngày 19/5/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố C L, anh Nh được nhận được nhận lại tiền chênh lệch 500.000 đồng.
- Bà H là người cao tuổi được miễn toàn bộ tiền án phí.
8. Án phí dân sự phúc th m: Bà H là người cao tuổi được miễn toàn bộ tiền án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc th m có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND t nh Đồng Tháp; - Ph ng KTNV và THA TAT; - TAND TP. CL; - CC THADS TP. CL; - Các đương sự; - Lưu: VT, HSVA (M). | TM HỘI N X T X H C TH M TH M HÁN - CHỦ TỌA HIÊN TÒA (đã k ) inh Chí Tâm |