- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Chí P phạm tội “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Chí P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 188/2022/HS-ST Ngày: 08-11-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Nữ Kiều Mỹ
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Bính
Bà Ngô Thị Tuyết
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Quỳnh Trang - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố P
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Kiểm sát viên
Trong ngày 08 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 147/2022/HSST ngày 05 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 217/2022/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:
NGUYỄN CHÍ P, sinh ngày 02 tháng 8 năm 1977 tại Thành phố H.
HKTT và nơi ở hiện nay: số 27/463, đường T, phường 15, quận G, Thành phố H; nghề nghiệp: tài xế; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn P, sinh năm 1955 (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1955 (đã chết); anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; vợ: Lý Thị Hoàng N, sinh năm 1980; có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2008. Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: ngày 03/10/2017, bị Công an quận T, Thành phố H xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 (một triệu năm trăm ngàn) đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” tại Quyết định số 0016483/QĐ-XPHC, đã nộp phạt số tiền trên.
Bị cáo đang tại ngoại tại địa phương và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1965. Nơi cư trú: khu phố 5, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 06 giờ ngày 05/6/2022 Nguyễn Chí P điều khiển xe ôtô khách, loại 16 chỗ ngồi, biển số 51B-301.51 chở khách du lịch từ Thành phố H đến khu vực Đồi cát bay thuộc khu phố 15, phường M, thành phố P thì dừng xe lại để khách tham quan Đồi cát bay. P chạy xe ôtô biển số 51B-301.51 đến bên hông quán TN của bà Nguyễn Thị H để xe ôtô, P vào quán TN ngồi uống cà phê đợi khách. Đến khoảng 07 giờ cùng ngày, P nhìn thấy có 01 cái ví cầm tay bằng vải để trong tủ kính không có khóa tại quầy bán nước giải khát và thấy không có người trông coi nên P nảy sinh ý định lấy trộm cái ví cầm tay. P đi đến quầy bán nước giải khát lấy cái ví cầm tay bằng vải, P đi ra phía sau quán, vào nhà vệ sinh của quán, P mở ví ra thấy bên trong có nhiều tờ tiền với nhiều mệnh giá khác nhau, P lấy hết số tiền có trong ví, bỏ vào túi quần của P, rồi P đi vào quán để cái ví vào vị trí cũ, sau đó P điều khiển xe ôtô chở khách du lịch rời khỏi quán. Đến 08 giờ cùng ngày, bà Nguyễn Thị H phát hiện bị mất tiền, bà H xem camera của quán phát hiện tài xế xe ôtô khách biển số 51B-301.51 đã lấy trộm tiền nên đến báo Công an phường M trình báo, đồng thời giao nộp đoạn video trích xuất từ camera ghi lại hình ảnh tài xế xe trộm tiền của H.
Công an phường M phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an thành phố P xác minh, phát hiện Nguyễn Chí P đang dừng xe tại quán cà phê Ocean Dunes thuộc phường Phú Thủy, thành phố P nên đưa P về trụ sở Công an phường P làm việc, tại đây P đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Vật chứng của vụ án:
- 21 tờ polime mệnh giá 500.000 đồng, 04 tờ polime mệnh giá 200.000 đồng, 18 tờ polime mệnh giá 100.000 đồng, 07 tờ polime mệnh giá 20.000 đồng, 01 tờ polime mệnh giá 10.000 đồng. Tổng cộng: 13.250.000 đồng.
- 01 chiếc xe ôtô biển số 51B-301.51.
- 01 USB có chứa hình ảnh Nguyễn Chí P trộm tiền vào ngày 05/6/2022.
Xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
Cơ quan điều tra đã trả lại số tiền 13.250.000 đồng cho bà Nguyễn Thị H. Bà H đã nhận lại tiền, không yêu cầu bồi thường gì về dân sự và có làm đơn bãi nại cho P.
Đối với xe ôtô biển số 51B-301.51 không liên quan đến vụ án nên Cơ quan
điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe trên cho Trương Thị Thanh C (sinh năm 1965, trú tại ấp Chánh 2, xã T, huyện H, Thành phố H).
Đối với USB có chứa hình ảnh Nguyễn Chí P trộm tiền vào ngày 05/6/2022, kèm theo hồ sơ để phục vụ xét xử.
Tại bản Cáo trạng số 146/CT-VKSPT ngày 30/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P đã truy tố bị cáo Nguyễn Chí P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Chí P, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Nguyễn Chí P phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo P từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng. Về biện pháp tư pháp: người bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không xét.
Bị cáo Nguyễn Chí P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng; bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên và không tự bào chữa. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sửa sai và chăm lo cho gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, theo hồ sơ đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự và thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về thủ tục tố tụng:
Trong vụ án này có người bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị cáo và Kiểm sát viên đều đề nghị xét xử vắng mặt người bị hại. Xét thấy sự vắng mặt của bị hại không gây trở ngại đến việc xét xử giải quyết vụ án, mặt khác bị hại đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai trước tòa. Căn cứ vào khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về căn cứ buộc tội đối với bị cáo:
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người bị hại cùng với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án, đã đủ cơ sở kết luận:
Vào lúc 07 giờ ngày 05/6/2022, tại quán TN thuộc khu phố 15, phường M, thành phố P, Nguyễn Chí P có hành vi lén lút lấy trộm số tiền 13.250.000 (mười ba triệu hai trăm năm mươi ngàn) đồng của bà Nguyễn Thị H thì bị phát hiện thu giữ.
Xét thấy, hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của Nguyễn Chí P là cố ý, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp tài sản chiếm đoạt có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng là tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P truy tố bị cáo theo khung hình phạt và điều luật như đã viện dẫn trong cáo trạng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thực hiện hành vi phạm tội vì lòng tham nhất thời; bị cáo không có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người bị hại đã nhận lại tài sản và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Trên cơ sở cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi
phạm tội, nhân thân bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ, ngoài ra xét bị cáo Phương có hoàn cảnh gia đình khó khăn, vợ bị cáo bị bệnh gai cột sống và khớp gối không thể lao động nặng, bị cáo là lao động chính trong gia đình, đồng thời bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, đủ điều kiện được hưởng án treo nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách, giao cho chính quyền địa phương quản lý, giám sát, giáo dục là đủ để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, sống tuân theo pháp luật và phòng ngừa tội phạm.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại:
Trong quá trình điều tra và tại đơn xin xét xử vắng mặt nộp cho Tòa án bị hại
Nguyễn Thị H khai đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Chí P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Nguyễn Chí P 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng được tính kể từ ngày Tòa tuyên án (08/11/2022).
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường 15, quận G, Thành phố H giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách của án treo:
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.
2. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Chí P phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo của bị cáo có mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (08/11/2022). Quyền kháng cáo của người bị hại vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc niêm yết bản án./.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố P; - TAND tỉnh Bình Thuận; - VKSND tỉnh Bình Thuận; - Công an thành phố P; - Người tham gia tố tụng; - UBND địa phương nơi b/c cư trú; - Thi hành án thành phố P; - Lưu: hồ sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hồ Nữ Kiều Mỹ |