vanban.org

Bản án 188/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đỗ Thị Mộng K được ly hôn với anh Nguyễn Phước H.

Về con chung: Giao chị Đỗ Thị Mộng K được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Quốc B, sinh ngày 09/8/2009. Anh H có quyền, nghĩa vụ tới lui thăm, chăm sóc con chung mà không ai có quyền cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Phước H không phải cấp dưỡng nuôi con do chị K không yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đỗ Thị Mộng Kiều ly hôn Nguyễn Phước Hãy"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đỗ Thị Mộng K được ly hôn với anh Nguyễn Phước H.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ MỸ THO
TỈNH TIỀN GIANG
------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 188/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 23/12/2022
V/v tranh chấp “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bảnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Nhung

Bà Bùi Thị Thu Nhi

-Thư ký phiên tòa: Bà Trần Phạm Vân Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Cẩm Thúy – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 509/2022/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 171/2022/QĐXX-ST ngày 21 tháng 11 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 129/2022/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Mộng K, sinh năm: 1983. Có mặt

Địa chỉ: 67 tổ 2 ấp A, xã ATT, huyện CG, Tiền Giang

2/ Bị đơn: Anh Nguyễn Phước H, sinh năm: 1984. Vắng mặt

Địa chỉ: 52A đường T, khu phố 3, Phường 9, Tp M, Tiền Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 07/9/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Đỗ Thị Mộng K trình bày:

Chị và anh Nguyễn Phước H có tìm hiểu trước và tiến đến hôn nhân, cưới nhau vào năm 2009, có đăng ký kết hôn ngày 13/8/2009 tại UBND Phường 8, thành phố Mỹ Tho, Tiền Giang. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc, đến năm 2011 thì có mâu thuẫn do anh H không lo cho gia đình mà còn cờ bạc, vợ chồng cãi nhau nên chị đã về nhà cha mẹ ruột ở trong 02 năm, sau đó anh H hứa sửa đổi nên chị mới trở về. Tiếp tục chung sống với nhau đến khoảng 04 năm nay thì vợ chồng tiếp tục phát sinh mâu thuẫn do anh H vẫn còn cờ bạc và gây nợ, chị và gia đình khuyên can mà vẫn không thay đổi, từ đó thường hay cãi nhau, không cùng quan điểm, không có tiếng nói chung khiến cho mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, cuộc sống không còn hạnh phúc. Vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2021 đến nay, anh H không một lần điện thoại, nhắn tin hỏi thăm hay đến thăm con. Nay chị thấy mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể giải quyết được, tình cảm vợ chồng đã không còn, đời sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Phước H.

Chị và anh H có 01 con chung tên Nguyễn Quốc B, sinh ngày 09/8/2009. Chị yêu cầu được quyền nuôi dưỡng con, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con

Về tài sản và nợ chung: Vợ chồng không có tài sản và nợ chung.

Anh Nguyễn Phước H đã được tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án cũng như các văn bản tố tụng khác trong quá trình giải quyết vụ án nhưng không có văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị K và cũng không đến tòa án tham dự phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải.

Tại phiên tòa, chị K vẫn giữ yêu cầu xin ly hôn với anh H; về con chung thì chị tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh H cấp dưỡng; về tài sản và nợ chung không có. Anh H vắng mặt không có lý do.

*Đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng; đối với đương sự: nguyên đơn thực hiện đúng, bị đơn thực hiện chưa đúng pháp luật tố tụng dân sự.

Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: đề nghị căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị K được ly hôn với anh H. Về con chung, giao cho chị K tiếp tục nuôi dưỡng cháu Quốc Bảo, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung, nợ chung: không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Anh Nguyễn Phước H được triệu tập dự phiên tòa hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh H.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị Mộng K và anh Nguyễn Phước H kết hôn vào năm 2009, có đăng ký kết hôn vào ngày 13/8/2009 tại UBND Phường 8, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 59/09, quyển số 01/2009, như vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Theo chị K trình bày trong quá trình giải quyết vụ án thì vợ chồng sống không hạnh phúc từ năm 2011, nguyên nhân do anh H không lo cho gia đình và còn cờ bạc, chị đã về nhà cha mẹ ruột ở trong 02 năm, sau đó mới trở về nhưng anh H chỉ hứa mà không sửa đổi, chị và gia đình khuyên can mà vẫn không thay đổi nên vợ chồng thường cãi nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và đã sống ly thân từ cuối năm 2021 đến nay, cả hai không quan tâm, thăm hỏi hay gặp nhau lần nào. Hiện nay tình cảm vợ chồng đã hết, hôn nhân không thể hàn gắn cũng không thể kéo dài nên chị yêu cầu được ly hôn với anh H.

Xét thấy, chị K xin ly hôn nhưng anh H không có văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của chị K dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần. Tại phiên tòa hôm nay anh H không đến Tòa án và vắng mặt không lý do, điều này thể hiện anh H không có ý chí mong muốn tình cảm vợ chồng hàn gắn mà để mặc cho chị K quyết định.

Xét, về tình nghĩa vợ chồng thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau và sống chung với nhau nhưng hiện giữa chị K và anh H không còn tình nghĩa vợ chồng, hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó nay chị K xin ly hôn với anh H là có cơ sở, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Quốc Bảo, sinh ngày 09/8/2009. Chị K yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Xét ý kiến của chị K thấy rằng con đang sinh sống ổn định với chị kể từ ngày anh chị mâu thuẫn và sống ly thân nhau, cháu có nguyện vọng ở với mẹ. Do đó để ổn định về mặt tâm sinh lý cũng như nơi sinh sống của con, nguyện vọng của con, Hội đồng xét xử nghĩ cần tiếp tục giao con cho chị K nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: chị K không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên anh H không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: Chị K trình bày không có, anh H vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: chị K phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Xét ý kiến và đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, 35, 147; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đỗ Thị Mộng K được ly hôn với anh Nguyễn Phước H.

2. Về con chung: Giao chị Đỗ Thị Mộng K được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Quốc B, sinh ngày 09/8/2009. Anh H có quyền, nghĩa vụ tới lui thăm, chăm sóc con chung mà không ai có quyền cản trở.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Phước H không phải cấp dưỡng nuôi con do chị K không yêu cầu.

4. Về án phí: Chị Đỗ Thị Mộng K chịu là 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng tại biên lai số 0022691 ngày 06/10/2022 của Chi Cục thi hành án dân sự Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xem như đã nộp xong án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Đỗ Thị Mộng K có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Phước H có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Cỡ chữ