- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "bà Lê Thị Bé M - Tô Hùng ông H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Lê Thị Bé M. Buộc ông Tô Hùng H trả cho bà Lê Thị Bé M số tiền nợ là 10.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 188/2022/DS-ST Ngày 30 - 9 - 2022 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Sơn Ngọc Trọng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đào Việt Khái.
Ông Nguyễn Ngọc Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Ngày 30 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 450/2022/TLST- DS ngày 15 tháng 8 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 492/2022/QĐXXST-DS, ngày 15 tháng 9 năm 2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị Bé M, sinh năm 1966 (có mặt).
Cư trú: Ấp R, xã P, huyện P, tỉnh C.
Bị đơn: Ông Tô Hùng H, sinh năm 1975 (vắng mặt).
Cư trú: Ấp R, xã P, huyện P, tỉnh C.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện ngày 15/8/2022 cùng các văn bản kèm theo và tại phiên tòa nguyên đơn bà Lê Thị Bé M trình bày: Vào ngày 28/11/2021 ông Tô Hùng H có hỏi vay của bà với số tiền là 10.000.000 đồng. Lãi suất thỏa thuận 500.000 đồng/tháng.
Quá trình vay tiền thì ông H có ký biên nhận nợ ngày 28/11/2021. Bà có yêu cầu ông H trả tiền nhiều lần nhưng ông H vẫn không thực hiện. Bà Lê Thị Bé M yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Tô Hùng H trả cho bà với số tiền nợ là 10.000.000 đồng, tại phiên tòa bà không yêu cầu tính lãi suất theo quy định pháp luật.
Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho ông Tô Hùng H đúng quy định pháp luật. Nhưng ông Tô Hùng H vắng mặt và không cung cấp lời khai, tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
1
Về thủ tục tố tụng:
Tranh chấp giữa bà Lê Thị Bé M với ông Tô Hùng H được xác định là “Hợp đồng vay tài sản” là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, ông Tô Hùng H có nơi cư trú tại huyện Phú Tân thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo lãnh thổ được quy định tại khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ông Tô Hùng H được Tòa án triệu tập tham gia tố tụng nhiều lần, nhưng ông Tô Hùng H không cung cấp chứng cứ và vắng mặt không có lý do. Nay căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông Tô Hùng H.
Về nội dung tranh chấp:
Bà Lê Thị Bé M xác định giữa bà M và ông Tô Hùng H có thỏa thuận vay tiền cụ thể là vào ngày 28/11/2021 ông Tô Hùng H có hỏi vay của bà M với số tiền là 10.000.000 đồng, Lãi suất thỏa thuận 500.000 đồng/tháng. Quá trình vay tiền thì ông H có ký biên nhận nợ. Ông Tô Hùng H có vay tiền của bà Lê Thị Bé M là thực tế xảy ra. Do ông H phải trả nợ nhưng không thực hiện. Phía bà M đã nhiều lần yêu cầu ông H thực hiện nhưng ông H vẫn không thanh toán cho bà M. Bà M có cung cấp một Biên nhận nợ lập ngày 28/11/2021 do ông H ký tên có nội dung về việc ông H có mượn tiền và nhận tiền đúng như bà M trình bày. Đối với ông Tô Hùng H không có ý kiến gì về nội dung khởi kiện và chứng cứ do bà Lê Thị Bé M cung cấp, ông Tô Hùng H cũng không có yêu cầu phản tố. Mặc khác, Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho ông H nhưng ông H không có ý kiến gì đối với yêu cầu của bà M. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà M về việc yêu cầu ông H trả số tiền 10.000.000 đồng và lãi suất theo quy định pháp luật. Từ đó buộc ông Tô Hùng H trả cho bà Lê Thị Bé M tổng số tiền còn nợ là 10.000.000 đồng và lãi suất theo quy định pháp luật là có cơ sở.
Về lãi suất: Theo Biên nhận ngày 28/11/2021 là ngày ông Tô Hùng H ký nhận nợ đến nay vẫn không đóng lãi cho bà M. Như vậy ông H phải trả cho bà M từ ngày 28/11/2021. Do ông H không thực hiện nghĩa vụ trả tiền nên bà M yêu cầu ông H trả lãi chậm thực hiện nghĩa vụ là phù hợp với quy định tại điều 468 của Bộ luật dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Tiền lãi được tính như sau: Lãi suất 10%/năm, lãi ngày là 0,028%, tiền lãi tình từ ngày 28/11/2021 đến ngày xét xử ngày 30/9/2022 là 10 tháng 02 ngày (10.000.000 đồng x 10 tháng 02 ngày x 0,028%) = 845.000 đồng. Như vậy tổng số tiền nợ gốc và lãi là 10.845.000 đồng.
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ, nay buộc ông Tô Hùng H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; nguyên đơn được hoàn lại toàn bộ tiền tạm ứng án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 26; 35; 39, 147 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các điều 463, 466 và 468 của Bộ luật dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Lê Thị Bé M. Buộc ông Tô Hùng H trả cho bà Lê Thị Bé M số tiền nợ là 10.845.000 đồng (mười triệu tám trăm bốn mươi lăm nghìn đồng).
Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
2. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
Buộc ông Tô Hùng H phải chịu 542.000 đồng (năm trăm bốn mươi hai nghìn đồng).
Bà Lê Thị Bé M đã nộp tạm ứng số tiền 370.000 đồng (ba trăm bảy mươi nghìn đồng), tại biên lai thu tiền số 0018171 ngày 15/8/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, nay hoàn lại toàn bộ cho bà Lê Thị Bé M.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Bà Lê Thị Bé M có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Ông Tô Hùng H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Phú Tân; - Chi cục THADS (khi có hiệu lực); - Phòng KTNV&THA (TAND tỉnh Cà Mau); - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Sơn Ngọc Trọng |