vanban.org

Bản án 188/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Mỹ K.

Về hôn nhân: Bà Phạm Thị Mỹ K được ly hôn với ông Nguyễn Thành D. Giấy chứng nhận kết hôn số 70/2016 ngày 07/4/2016 của Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Trường, huyện An Phú, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Mỹ K.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 188/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 09/6/2020
V/v tranh chấp “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ - TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Phong Phi

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Hoàng Nghiệp;

Bà Nguyễn Thị K Uyên.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Đỗ Ngọc Mai Thy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trà Mi- Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú. Tòa án nhân dân huyện An Phú mở xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 31/2020/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2020 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 155/2020/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Mỹ K, sinh năm: 1985.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thành D, sinh năm: 1983.

Cùng cư trú: Tổ 08, ấp Vĩnh Nghĩa, xã Vĩnh Trường, huyện An Phú, An Giang.

(Bà K có mặt; ông D vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bà Phạm Thị Mỹ K nộp đơn xin ly hôn với ông Nguyễn Thành D với nội dung như sau:

Hôn nhân giữa ông, bà được hình thành là do mai mối rồi được cha mẹ hai bên đứng ra tổ chức đám cưới vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Trường, huyện An Phú, tỉnh An Giang. Cuộc sống chung thời gian đầu tương đối hạnh phúc và phát sinh mâu thuẫn cách đây vài năm. Nguyên nhân là do hai người bất đồng quan điểm, sống không hợp nhau, ông D thường xuyên đi rượu chè rồi về kiếm chuyến hanh hung bà, vợ chồng thường gây cãi làm mất hạnh phúc gia đình. Hai người ly thân nhau từ đó. Nay bà xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà xin ly hôn với ông D.

Trong quá trình chung sống hai người có ba con chung: Nguyễn Thị Mỹ Ngân, sinh ngày 16/7/2003; Nguyễn Thị Như Quỳnh, sinh ngày 20/4/2009; Nguyễn Quốc Nhật, sinh ngày 16/3/2016; Hiện ba cháu đang sống với bà. Khi ly hôn bà yêu cầu nuôi ba con chung, không yêu cầu cấp dưỡng.

Về quan hệ tài sản chung; Nợ chung: Không có.

Về tài liệu chứng cứ: Các tài liệu chứng cứ các đương sự giao nộp đã được thẩm tra và công khai trong quá trình hòa giải, các đương sự không có ý kiến gì về các tài liệu chứng cứ và tại phiên tòa không ai giao nộp bổ sung thêm tài liệu chứng cứ khác.

Trong quá trình thụ lý, hòa giải Tòa án đã tiến hành cấp tống đạt cho ông D theo quy định nhưng ông vẫn không có mặt theo văn bản triệu tập của Tòa án. Tòa án tiến hành xác minh nơi cư trú và tình trạng hôn nhân của bà K và ông D để giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Tại phiên tòa, bà K bảo lưu ý kiến của mình. Riêng ông D đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt ông theo thủ tục chung.

Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về tuân thủ pháp luật của Thẩm phán trong ghi lời khai, thủ tục xét xử vắng mặt, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng…là hoàn toàn phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự. Đối với thành phần hội đồng xét xử không có thành viên nào thuộc đối tượng phải thay đổi, việc xét hỏi tại phiên tòa, thời hạn xét xử cũng như thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.

Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về nội dung: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn và nuôi con chung và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung của bà K.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[ 1] Về thủ tục tố tụng: Hôn nhân giữa bà K và ông D hình thành là tự do thông qua mai mối, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Trường, huyện an Phú là hôn nhân hợp pháp; các đương sự đều cư trú trên địa bàn huyện An Phú, nên yêu cầu xin ly hôn của bà K được tòa án thụ lý, giải quyết là đúng quy định tại Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, 35, 39 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa hai người hình thành là do mai mối, được cha mẹ hai bên đứng ra tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng thời gian sau phát sinh mâu thuẫn và ly thân nhau. Nay bà K xin ly hôn do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được.

Chứng cứ mà Tòa án thu thập được: Tại biên bản xác minh tình trạng hôn nhân của ông Nguyễn Thành D ngày 29/4/2020 được ông Nguyễn Minh Triết – Phó ấp Vĩnh Nghĩa, xã Vĩnh Trường, huyện An Phú, tỉnh An Giang cho biết hiện nay ông D vẫn còn đăng ký hộ khẩu tại ấp Vĩnh Nghĩa, xã Vĩnh Trường, huyện An Phú, tỉnh An Giang. Về tình trạng hôn nhân thì ông không rõ vì hiện nay gia đình ông D đi làm ăn xa ít thấy về địa phương.

Xét nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn ngay từ ban đầu là bất đồng nhau trong cách sống, lẽ ra hai bên tự tìm cách hóa giải để tạo điều kiện cho cuộc sống hạnh phúc. Hiện tại bà K xác định là không còn tình cảm với ông D và mâu thuẫn đã thật sự trầm trọng không có tiếng nói chung không thể tiếp tục chung sống với ông D.

Trong thời gian không sống chung cả hai đều không quan tâm nhau để hàn gắn, căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 19 luật hôn nhân gia đình 2014, thì ông, bà đã vi phạm nghĩa vụ của vợ chồng “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”, Tòa án nhận thấy cả hai vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó Tòa án giải quyết cho ly hôn là có căn cứ.

Về quan hệ con chung: Bà K khai có ba con chung và hiện đang được bà nuôi dạy. Khi ly hôn bà yêu cầu nuôi con, không yêu cầu ông D cấp dưỡng. Hội đồng xét xử nghĩ nên công nhận tự nguyện này giao ba cháu cho bà K tiếp tục nuôi.

Tại phiên tòa, ông D vắng mặt nên Hội đồng xét xử cũng giải thích cho bà K biết: Bà K cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông D trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Bà K khai không có, tuy nhiên do ông D vắng mặt, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này ông D có chứng cứ khác về tài sản chung, nợ chung và có yêu cầu thì Tòa án sẽ xem xét thụ lý giải quyết thành vụ kiện khác.

Về án phí: Do yêu cầu của bà K được chấp nhận nên bà phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm. Ông D không phải chịu án phí sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ khoản 4 Điều 147, các Điều 227, 228, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Mỹ K.

Về hôn nhân: Bà Phạm Thị Mỹ K được ly hôn với ông Nguyễn Thành D.

Giấy chứng nhận kết hôn số 70/2016 ngày 07/4/2016 của Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Trường, huyện An Phú, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Về con chung: Giao ba cháu Nguyễn Thị Mỹ Ngân, sinh ngày 16/7/2003; Nguyễn Thị Như Quỳnh, sinh ngày 20/4/2009; Nguyễn Quốc Nhật, sinh ngày 16/3/2016 cho bà K nuôi.

Bà K cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông D trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Bên không trực tiếp nuôi con, không được lợi dùng quyền thăm con hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nôm, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà gây ảnh hưởng đến việc nuôi dạy con của bên trực tiếp nuôi con

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung Da trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Về án phí: Bà K phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được chuyển từ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0009862 ngày 05/02/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú (bà K đã nộp đủ).

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 09/6/2020) Các đương sự được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của người vắng mặt được tính từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ