vanban.org

Bản án 188/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử cho chị Hà Thị T được ly hôn với anh Lường Văn T.

Về con chung: Giao cho chị Hà Thị T trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục các cháu Lường Duy H, sinh ngày 22/01/2004 và cháu Lường Chí H, sinh ngày 26/6/2012 đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc — án hôn nhân và gia đình — "Bản án Hà Thị T - Lường Văn T"
  • Tòa quyết gì? Xử cho chị Hà Thị T được ly hôn với anh Lường Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỘC CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 188/2020/HNGĐ - ST.
Ngày: 20/8/2020.
V/v Xin ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Triệu Văn Quang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đỗ Đình Bản.

2. Bà Lê Thị Chanh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Công Dương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Thanh Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 176/2020/TLST - HNGĐ ngày 06 tháng 7 năm 2020 về việc Xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13 ngày 10 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Hà Thị T - Sinh năm 1983. Địa chỉ: Bản A M x, xã L, huyện M, tỉnh Sơn La, có mặt.

2. Bị đơn: Anh Lường Văn T tên gọi khác Lường Văn S - Sinh năm 1985. Địa chỉ: Bản A M x, xã L, huyện M, tỉnh Sơn La.

Hiện đang chấp hành án tại trại giam Yên Hạ, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn ngày 06 tháng 7 năm 2020 và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Hà Thị T trình bày.

Chị và anh T kết hôn với nhau vào ngày 18/12/2003 trên cơ sở tự nguyện, đã đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Chiềng Sơn, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.

Cuộc sống hạnh phúc đến tháng 9 năm 2012 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính cách quan điểm sống không hợp nhau, anh T nghiện hút chất ma túy và vi phạm pháp luật, hiện đang đi chấp hành án tại Trại giam Yên Hạ, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị T có đơn khởi kiện ra Tòa án, yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

Về con chung: Có 02 cháu là Lường Duy H, sinh ngày 22/01/2004 và cháu Lường Chí H, sinh ngày 26/6/2012.

Trường hợp ly hôn chị T xin được trực tiếp nuôi cả hai cháu Lường Duy H và cháu Lường Chí H, không yêu cầu anh T phải đóng góp tiền nuôi con chung cùng với chị.

Về tài sản chung, vay nợ chung: Không có.

Về án phí: Chị T xin tự nguyện chịu T bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Bị đơn anh Lường Văn T trình bày.

Anh nhất trí như việc trình bày của chị T về thời gian kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn, anh xác nhận quá trình chung sống anh chị có với nhau hai con chung là Lường Duy H, sinh ngày 22/01/2004 và cháu Lường Chí H, sinh ngày 26/6/2012, về tài sản chung không có, về nợ chung: Không vay nợ ai. Về tình cảm nay chị T xin ly hôn với anh, anh không nhất trí.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu phát biểu ý kiến như sau:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký: Từ khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án cho đến khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo đúng quy định pháp luật.

- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử tham gia đúng thành phần như trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, các trình tự của phiên tòa sơ thẩm diễn ra theo đúng quy định của pháp luật.

- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Xử cho chị Hà Thị T và anh Lường Văn T được ly hôn.

- Về con chung: Giao cháu Lường Duy H, sinh ngày 22/01/2004 và cháu Lường Chí H, sinh ngày 26/6/2012 cho chị Hà Thị T trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi.

Chị T không yêu cầu anh T đóng góp tiền nuôi con chung cùng với chị.

- Về án phí: Chị Hà Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ kiện, chị Hà Thị T đã cung cấp đầy đủ các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình.

Anh Lường Văn T đã được lấy lời khai, và đề nghị xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về quan hệ hôn nhân:

Chị Hà Thị T và anh Lường Văn T kết hôn với nhau vào ngày 18/12/2003. Khi kết hôn anh, chị đã đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật, việc kết hôn là hoàn T tự nguyện, không thuộc các trường hợp cấm kết hôn và có đăng ký kết hôn tại xã Chiềng Sơn, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Vì vậy quan hệ hôn nhân của chị T và anh T là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Cuộc sống chung hạnh phúc đến tháng 9 năm 2012 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T nghiện hút chất ma túy, từ đó vi phạm pháp luật và bị Tòa án xử phạt 21 tháng tù hiện đang chấp hành án tại trại giam Yên Hạ, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.

Quá trình giải quyết vụ kiện Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của anh Lường Văn T. Anh T xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, anh không nhất trí ly hôn với chị T.

Tòa án nhận thấy mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa chị Hà Thị T và anh Lường Văn T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của chị T là có căn cứ, cần xử cho chị T được ly hôn với anh T.

Về con chung: Quá trình chung sống hai anh chị đều xác định có 02 cháu là Lường Duy H, sinh ngày 22/01/2004 và cháu Lường Chí H, sinh ngày 26/6/2012, nguyện vọng của chị T là xin được nuôi cả hai cháu sau khi ly hôn, xét thấy nguyện vọng của chị là chính đáng, do anh T hiện nay đang đi chấp hành án, không có điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc cháu và hiện nay hai cháu vẫn ở cùng với chị T. Do đó để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho các cháu cần giao cháu Lường Duy H, sinh ngày 22/01/2004 và cháu Lường Chí H, sinh ngày 26/6/2012 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục đến khi các cháu trưởng thành 18 tuổi.

Do chị T không yêu cầu anh T phải đóng góp tiền nuôi con chung cùng với chị, nên không đề cập việc giải quyết.

Về tài sản chung: Hai anh chị đều xác định không có tài sản chung.

Về nợ chung: Hai anh chị đều xác định không có nợ chung.

Về án phí: Chị Hà Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82; Điều 83; 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Xử cho chị Hà Thị T được ly hôn với anh Lường Văn T.

2. Về con chung:

Giao cho chị Hà Thị T trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục các cháu Lường Duy H, sinh ngày 22/01/2004 và cháu Lường Chí H, sinh ngày 26/6/2012 đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi.

Do chị T không yêu cầu anh T phải đóng góp tiền nuôi con chung cùng với chị, nên không đề cập việc giải quyết trong vụ án này.

Không ai được cản trở quyền trông nom, thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn.

3. Về án phí: Chị Hà Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: 0000973 ngày 06/7/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ