vanban.org

Bản án 187/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Nguyễn Như Q. Cho chị Nguyễn Như Q được ly hôn với anh Đỗ Thành Đ.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Đỗ Ánh Tuyết, sinh ngày 25/06/2024. Giao cháu Đỗ Ánh Tuyết cho chị Nguyễn Như Q trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con của anh Đỗ Thành Đ cho đến khi chị Nguyễn Như Q yêu cầu hoặc… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "q - đ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Nguyễn Như Q. Cho chị Nguyễn Như Q được ly hôn với anh Đỗ Thành Đ.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 - HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 187/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 07/04/2026.
V/v: Xin ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Sơn Hà;

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Huy Hoàn và bà Nguyễn Thị Sen.

Thư ký phiên toà ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Công Thành – Thẩm tra viên chính.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Ông Trần Việt Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 07/04/2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 8 – Hà Nội, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 357/2025/TLST-HNGĐ ngày 09/12/2025, về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2026/QĐXXST - DS ngày 27/02/2026 và Quyết định hoãn phiên Toà số 35/2026/QĐST-HPT ngày 20/03/2026 giữa:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Như Q, sinh năm 2005 (Có mặt);

HKTT: TDP số 7 Hòe Thị, phường Xuân Phương, thành phố Hà Nội.

Nơi cư trú: Số nhà 6, đường Phương Canh, phường Xuân Phương, thành phố Hà Nội.

Bị đơn: Anh Đỗ Thành Đ, sinh năm 2000 (Vắng mặt);

ĐKHKTT và ở : Số nhà 1, ngõ 59, đường Yên Vĩnh, xã Hoài Đức, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Như Q trình bày:

Về tình cảm: Chị và anh Đỗ Thành Đ kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 09/7/2024 tại Uỷ ban nhân dân xã Kim Chung, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội (nay là UBND xã Hoài Đức, thành phố Hà Nội). Anh chị kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu. Thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc cho đến khi chị Quỳnh sinh con thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không hợp về tính cách, vợ chồng không có sự chia sẻ dẫn đến thường xuyên cãi vã, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Vợ chồng chị đã ly thân từ tháng 9 năm 2025 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nhận thấy đôi bên tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Quỳnh làm đơn khởi kiện, đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với ông Đạt.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Đỗ Ánh Tuyết, sinh ngày 25/ 06/2024. Khi ly hôn chị Quỳnh có nguyện vọng nuôi dưỡng cháu Đỗ Ánh Tuyết và có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung với số tiền 5.000.000 đồng/1 tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác.

Về tài sản chung, công sức đóng góp với hai bên gia đình và nợ chung: Chị Quỳnh không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn anh Đỗ Thành Đ kể từ khi thụ lý vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ các thông báo, quyết định của Toà án cho anh Đạt. Tuy nhiên anh Đạt không đến Toà để làm việc. Toà án đã xác minh và niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của anh Đạt và Uỷ ban nhân dân xã Hoài Đức, thành phố Hà Nội.

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn chị Nguyễn Như Q giữ nguyên yêu cầu đề nghị Toà án giải quyết cho ly hôn với anh Đạt. Về con chung: Chị đề nghị giao cháu Đỗ Ánh Tuyết cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị rút yêu cầu đề nghị anh Đạt cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

- Bị đơn anh Đỗ Thành Đ vắng mặt tại phiên Toà.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Hà Nội tại phiên Toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến thời điểm Hội đồng xét xử, nghị án là đúng trình tự, quy định của pháp luật. Tại phiên Toà, Hội đồng xét xử và thư ký Toà án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71 BLTTDS. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại 70, 72 BLTTDS.

+ Về tình cảm: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Như Q. Chị Nguyễn Như Q được ly hôn với anh Đỗ Thành Đ.

+ Về con chung: Giao cháu Đỗ Ánh Tuyết, sinh ngày 25/6/2024 cho chị Quỳnh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Anh Đạt có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được ngăn cản.

Về cấp dưỡng nuôi con: đề nghị tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Đỗ Thành Đ cho đến khi chị Nguyễn Như Q yêu cầu.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Chị Quỳnh không yêu cầu nên không xét.

+ Về án phí: Chị Quỳnh phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn tại Tòa án, bản tự khai của bị đơn và các tài liệu, chứng cứ do Toà án thu thập được, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Nguyễn Như Q khởi kiện về việc xin ly hôn với anh Đỗ Thành Đ. Anh Đạt có địa chỉ tại số nhà 1, ngõ 59, đường Yên Vĩnh, xã Hoài Đức, thành phố Hà Nội nên Tòa án nhân dân khu vực 8 – Hà Nội thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn anh Đỗ Thành Đ đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên Toà nhưng vắng mặt lần thứ hai. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh Đỗ Thành Đ.

Về nội dung:

Chị Nguyễn Như Q và anh Đỗ Thành Đ kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 08/12/2023 tại Uỷ ban nhân dân xã Kim Chung, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội (nay là xã Hoài Đức, thành phố Hà Nội). Hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp.

Vợ chồng sống hạnh phúc đến khi chị Quỳnh sinh con thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do không hợp tính cách, quan điểm sống bất đồng, vợ chồng không có sự chia sẻ dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã, cuộc sống chung không hạnh phúc. Anh chị hiện đã sống ly thân từ tháng 9/2025 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Tại phiên hoà giải và tại phiên Toà anh Đạt đều vắng mặt nên Toà án không thể hoà giải đoàn tụ được. Tại biên bản xác minh của trưởng thôn Yên Vĩnh cũng xác định hiện nay chị Quỳnh không sinh sống cùng anh Đạt, chính quyền địa phương đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Như vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy, chị Quỳnh và anh Đạt đang sống ly thân không quan tâm, yêu thương lẫn nhau, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận cho chị Nguyễn Như Q ly hôn với anh Đỗ Thành Đ.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Đỗ Ánh Tuyết, sinh ngày 25/06/2024. Hội đồng xét xử nhận thấy: Cháu Tuyết hiện đang sống cùng chị Quỳnh tại phường Xuân Phương, thành phố Hà Nội. Kể từ khi ly thân anh Đạt không quan tâm chăm sóc cháu Tuyết mà đều do một mình chị Quỳnh trông nom, muôi dưỡng. Hơn nữa cháu Tuyết còn nhỏ, dưới 36 tháng tuổi nên cần có sự quan tâm, chăm sóc, giáo dục của mẹ. Do đó, để tránh sáo trộn cuộc sống cũng như theo nguyện vọng của nguyên đơn, Hội đồng xét xử giao cháu Đỗ Ánh Tuyết cho chị Nguyễn Như Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là hợp lý và đúng quy định của pháp luật. Chị Quỳnh không yêu cầu anh Đạt cấp dưỡng tiền nuôi con chung nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con của anh Đạt cho đến khi chị Quỳnh yêu cầu hoặc khi có sự thay đổi khác. Anh Đạt có quyền và nghĩa vụ đi lại, thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Về tài sản chung, công sức đóng góp với hai bên gia đình và nợ chung: Chị Quỳnh không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét;

Về án phí: Chị Nguyễn Như Q phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 59, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Nguyễn Như Q. Cho chị Nguyễn Như Q được ly hôn với anh Đỗ Thành Đ.

2. Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Đỗ Ánh Tuyết, sinh ngày 25/06/2024. Giao cháu Đỗ Ánh Tuyết cho chị Nguyễn Như Q trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con của anh Đỗ Thành Đ cho đến khi chị Nguyễn Như Q yêu cầu hoặc khi có sự thay đổi khác.

Anh Đỗ Thành Đ có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, công sức đóng góp với hai bên gia đình và nợ chung: Chị Quỳnh không yêu cầu Toà án giải quyết;

4. Về án phí: Chị Nguyễn Như Q phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm được trừ 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí chị Quỳnh đã nộp theo Biên lai số 0019248 ngày 09/12/2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội. Chị Quỳnh đã nộp đủ án phí.

5. Án xử công khai sơ thẩm. Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ