vanban.org

Bản án 187/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 06/07/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 06/07/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Phúc T tội cưỡng đoạt tài sản - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 170 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 187/2023/HS-PT
Ngày: 06-7-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử ph thẩm gồm ó:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh

Các Thẩm phán: Ông Huỳnh Thanh Mỹ

Bà Huỳnh Kim Oanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Nhựt Minh - Thẩm tra viên T a án nh n d n t nh Đ ng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Trí - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 7 năm 2023, tại Trụ sở T a án nh n d n t nh Đ ng Tháp mở phiên t a xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 141/2023/TLPT-HS ngày 19 tháng 5 năm 2023 ối v i ị cáo Nguyễn Phúc T và ng phạm. Do c kháng cáo c a ị cáo Nguyễn Phúc T và Lê Nhựt N ối v i Bản án hình sự sơ thẩm số: 17/2023/HS-ST ngày 12 tháng 4 năm 2023 c a T a án nh n d n huyện Tháp Mười.

- cáo c háng cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Phúc T (tên gọi khác Thịnh B), sinh ngày 27/6/1996; nơi sinh Đ ng Tháp; nơi cư trú ấp B, xã M, huyện T, t nh Đ ng Tháp; nghề nghiệp buôn bán; trình ộ học vấn 9/12; d n tộc kinh; gi i tính nam; tôn giáo không; quốc tịch Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1970 (c n sống) và à Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm 1970 (c n sống); vợ tên Nguyễn Thị Thu N1, sinh năm 2001, con c 01 con sinh năm 2020; gia ình có 03 anh chị em, ị cáo là con thứ 2 trong gia ình; tiền án, tiền sự không; tạm giữ ngày 18/12/2021; tạm giam ngày 21/12/2021; ị cáo c n ang ị tạm giam và c mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Lê Nhựt N (tên gọi khác N), sinh ngày 25/4/2001; nơi sinh Đ ng Tháp; nơi cư trú ấp B, xã M, huyện T, t nh Đ ng Tháp; nghề nghiệp sinh viên; trình ộ học vấn 12/12; dân tộc kinh; gi i tính nam; tôn giáo không; quốc tịch Việt Nam; con ông Lê Văn C, sinh năm 1952 (c n sống) và à Nguyễn Thị L, sinh năm 1954 (c n sống); vợ, con không; gia ình c 09 anh chị em, ị cáo là con thứ 9 trong gia ình; tiền án, tiền sự không; tạm giữ ngày 08/12/2021; tạm giam ngày 14/12/2021; ị cáo c n ang ị tạm giam và c mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Phúc T theo yêu cầu: Luật sư Lê Văn L1 - Văn ph ng luật sư Phạm Minh T2 thuộc Đoàn Luật sư t nh Đ (c mặt).

Trong vụ án còn c các b cáo Lương Minh L2, Nguyễn Phạm Minh H1, Hoàng Hồng P, Hồ Văn C1, Nguyễn Phước C2; người b hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan hông háng cáo và Viện iểm sát hông háng ngh .

NỘI D NG V ÁN

Theo các tài liệu c trong hồ sơ vụ án và diễn bi n tại phiên tòa, n i dung vụ án ược t m t t như sau:

Phạm Hoàng N2 N), Nguyễn Phúc T T), Cao Vũ Đ Đ1i), H Văn C1 (Bé), Lê Nhựt N N) là ạn x hội v i nhau. T mối quan hệ này, N c vay c a ị cáo T số tiền 130.000.000 ng, N số tiền 5.000.000 ng và Cao Vũ Đ số tiền 40.000.000 ng (trong c 30.000.000 ng c a C1 ưa cho Đại ể cho Nam Đ vay). Số nợ này

ược i nhiều lần nhưng Nam Đ trốn tránh, không trả như giao h n.

Đ n khoảng 10 giờ, ngày 06/12/2021, ị cáo Lê Nhựt N sang chơi nhà hàng x m thì nghe người tên B1 (không r nh n th n) n i v i những người khác là Nam Đ2 ang c mặt tại nhà c a ông Ngô Văn B2 trên ịa àn ấp B, xã M nên gọi iện thoại áo cho T i t nh m mục ích c ng T i tìm i nợ N. T gọi iện thoại cho ị cáo Lương Minh L2 r i i nợ nhưng chưa n i i u, i ai, h n gặp L2 tại nhà anh c a T thuộc khóm A, thị trấn M, huyện T. L2 r thêm ị cáo Nguyễn Phạm Minh H1 và ị cáo Hoàng H ng P, cả 03 người i trên xe tay ga màu ỏ biển số 66P2 - 05595 c a P n nhà anh c a T. Tại y, T cho cả nh m i t s i i nợ Nam Đ tại nhà c a ông B2 ở xã M. Do không ai i t ịa ch cụ thể nhà ông B2, L2 iện thoại cho Nguyễn Văn L3 là người ở xã M ể hỏi thì ược L3 ch ường và h n n tại oạn ường phía trư c nhà ông B2. Ti p , L2 gọi iện thoại cho Đ (Là anh họ c a L2) ch ường n tìm gặp N, do trư c Đ c kể Nam Đ thi u tiền nhưng không trả. T chở P, H1 chở L2 i trên 02 xe mô tô n nhà ông B2. Khi cả nh m n ng 3 T, N iều khiển xe mô tô n c ng i v i nh m c a T.

Khoảng 12 giờ c ng ngày, khi n nhà ông B2, L3 và Nguyễn Phư c Ti n V ang ứng chờ. Gặp nhau, cả nh m i vào và tìm ược N ang n m võng ở phía sau nhà. Lúc này, L2 và T i tiền N, N không c tiền trả. L2 l n ti ng chửi thề và òi ánh. Thấy vậy, V can ngăn không cho ánh Nam Đ do ang ở nhà ông B2, L2 yêu cầu N i theo n nơi khác. Do thấy nhóm c a L2 có nhiều người, sợ ị ánh nên Nam Đ2 i theo. L2 kêu P chở N trên xe Vision, H1 ng i phía sau ôm. L2 i v i T, N i một mình, V và L3 không i theo mà chạy về.

Khi n quán nư c c a chị Ngô Thị Mỹ D tại ấp A, xã M cách nhà ông B2 khoảng 2km thì cả nh m ghé vào. Ngay lúc nh m c a L2 v a n thì Đ và ị cáo H Văn C1 cũng v a n. Khi i, Đ gọi r C1 i theo. Đ n i v i N, trong số tiền thi u Đ ng c 30.000.000 ng là c a Chánh r i ỏ về. Đ ng không yêu cầu ai trong số các ị cáo i tiền giúp. Ti p , L2 trực ti p i tiền Nam Đ nhưng Nam Đ2 không co tiền ể trả và ti p tục hứa h n. L2 d ng tay ánh vào người Nam Đ2, thấy vậy, P và H1 cu ng ánh theo. Trong lúc ánh, L2 lấy 01 cái gh nhựa ở quán ti p tục ánh vào người N và ược Chánh can ngăn. Sau khi ánh Nam Đò xong, L2 yêu cầu N phải gọi iện thoại ể mượn tiền trả nợ. Khoảng thời gian này, C1 cũng yêu cầu Nam Đ trả 30.000.000 ng c a mình và 16.000.000 ng c a Đ (Đ y là số tiền trư c C1 nghe Đ kể N c n thi u). Do bị ánh nên Nam Đ2 ng ý va iện thoại cho ông 6 Lũ yêu cầu trả số tiền 40.000.000 ng mượn c a mình thì ông B2 h n 02 ngày sau trả cho L2 thay cho N, L2 ng ý. Sau khi ược ông B2 hứa trả tiền, L2 gọi iện thoại cho Đ thông áo

i giúp cho Đ số tiền mà Nam Đ nợ Đ, kêu Đ ng 02 ngày sau n nhà ông B2 lấy tiền. Đ ng không n i gì r i tắt cuộc gọi. L2 một mình iều khiển xe i n ám tang gần . Chánh iện thoại cho Nguyễn Văn K n rư c về ph ng trọ c a C1 tại khách sạn Đ3 tại khóm A, thị trấn M, huyện T. Đ n khoảng 15 giờ c ng ngày, K chở ị cáo Nguyễn Phư c C2 (là ạn x hội v i L2) n quán r i iểu khiển xe i, C2 ở lại, i vào quán, ng i trên v ng uống nư c và chứng ki n T uộc Nam Đ2 tiê p tục gọi iện thoại cho Lê Thị H2 (Vợ c a N) mượn 20.000.000 ng ể trả nợ. T kêu N i gặp H2 ể lấy tiền nhưng H2 h n n 17 giờ c ng ngày. Nam C gọi iện thoại áo cho T i t và quay lại quán nư c. Trong khoảng thời gian Nam C i lấy tiền, T ở lại tại quán ti p tục g y sức ép uộc N gọi iện thoại cho ạn là B i Văn K1 mượn ược 20.000.000 ng ưa cho H2, h n n 19 giờ gặp H2 lấy t ng số tiền là 40.000.000 ng. Số nợ c n lại, Nam Đ2 he n 05 ngày nữa s trả.

Đ n khoảng 16 giờ cùng ngày, L2 quay trở lại quán nư c thì ược T cho bi t là chưa nhận ược tiền, L2 n i v i T: B y giờ thả ra chưa chắc lấy ược tiền nên gọi iện thoại cho C1 nói giữ Nam Đ ở chỗ Chánh n khi nhận ược tiền s thả về, C1 ng ý. Sau , L2 kêu N chở N, kêu C2 ng i phía sau ôm, giữ. L2 c ng ng phạm ưa Nam Đ2 vê ph ng c a C1 ể C2 và Chánh canh, giữ N. Những người khác ra về.

Đ n khoảng 19 giờ, theo yêu cầu c a T, N n nhà gặp H2 nhận 40.000.000 ng r i gọi iện áo cho T i t. Trong lúc này, N au nhức ở các v ng ị ánh nên Nam Đ2 iện thoại cho T i t, T iện thoại cho Nam C3 kêu n ưa N i ệnh viện. Khoảng 20 giờ, N n chở Nam Đ2 i và h n gặp T tại cầu H ưa số tiền 40.000.000 ng lấy ược t H2. Sau , Nam C chở Nam Đ2 n Bệnh viện Đ4 ể khám nhưng do ệnh viện m i phát hiện ca nhiễm C4 nên chưa ti p nhận ngay. Đợi l u, N chở N n nhà trọ Y n Thy gần c ng sau ệnh viện. Nam Đò n m trong nhà trọ khoảng 40 phút thì Nam Đ2 gọi iện thoại cho người bạn là Nguyễn Thành T3 n chở Nam Đ2 n Công an huyện T ể trình áo sự việc.

Khoảng một tuần sau, Đ nhờ Nguyễn Giang C5 n gặp ông 6 Búp lấy số tiền 40.000.000 ng nhưng không n i là tiền gì. Tiền lấy ược C5 ưa lại cho Đ. Đối v i N, sau khi các ị cáo ị ắt, Nam Đ2 cũng không i t việc ông B2 trả tiền cho Đ, cũng không yêu cầu ông B2 ngưng việc trả tiền như hứa vì thực t Nam Đ c nợ số tiền này.

Tại Bản k t luận giám ịnh Pháp y về thương tích số: 31/TgT ngày 22/12/2021 c a Trung tâm Pháp y t nh Đ k t luận: Tỷ lệ t n thương cơ thể Phạm Hoàng N2 do thương tích g y nên là 02% (Hai phần trăm) tại thời iểm giám ịnh.

Tại ản án hình sự sơ thẩm số: 17/2023/HS-ST ngày 12/4/2023 c a T a án nh n d n huyện Tháp Mười quy t ịnh:

1. Tuyên ố: Các ị cáo Nguyễn Phúc T, Lê Nhựt N phạm tội “Cưỡng oạt tài sản” và “ t, giữ người trái pháp luật”.

2. Xử phạt: Căn cứ iểm d, khoản 2 Điều 170; khoản 1 Điều 157; iểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt ị cáo Nguyễn Phúc T 03 (Ba) năm 06 Su) tháng tù về tội “Cưỡng oạt tài sản” và 09 C6n) tháng t về tội B t, giữ người trái pháp luật”.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự, t ng hợp hình phạt chung cho hai tội là 04 (Bốn) năm 03 (Ba) tháng t . Thời hạn t tính t ngày tạm giữ, ngày 18/12/2021.

Căn cứ iểm d, khoản 2 Điều 170; khoản 1 Điều 157; iểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt ị cáo Lê Nhựt N 03 (Ba) năm t về tội “Cưỡng oạt tài sản” và 06 Su) tháng t về tội B t, giữ người trái pháp luật”.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự, t ng hợp hình phạt chung cho hai tội là 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng t . Thời hạn tù tính t ngày tạm giữ, ngày 08/12/2021.

Ngoài ra, án sơ thẩm c n xử phạt ị cáo Lương Minh L2 03 năm 03 tháng tù về tội Cưỡng oạt tài sản và 07 tháng t về tội Bắt, giữ người trái pháp luật ; Nguyễn Minh H1 02 năm về tội Cưỡng oạt tài sản và 06 tháng t về tội Bắt, giữ người trái pháp luật ; Hoàng H ng P 02 năm t về tội Cưỡng oạt tài sản và 06 tháng t về tội Bắt, giữ người trái pháp luật ; H Văn C1 02 năm t về tội Cưỡng oạt tài sản và 06 tháng t về tội Bắt, giữ người trái pháp luật ; Nguyễn Phư c C2 02 năm t về tội Cưỡng oạt tài sản và 06 tháng t về tội Bắt, giữ người trái pháp luật ; tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật ịnh.

T ngày 24 n 25 tháng 4 năm 2023, ị cáo Nguyễn Phúc T c ơn kháng cáo v i nội dung xin xem xét lại phần ịnh khung hình phạt; ị cáo Lê Nhựt N kháng cáo xin giảm nh hình phạt. Tại phiên t a phúc thẩm, ị cáo Nguyễn Phúc T sung kháng cáo xin giảm nh hình phạt.

Tại phiên t a, ại diện Viện kiểm sát nh n d n t nh Đ ng Tháp phát iểu quan iểm: Hành vi c a các ị cáo Nguyễn Phúc T và Lê Nhựt N bị T a án cấp sơ thẩm quy k t về tội Cưỡng oạt tài sản và tội Bắt, giữ người trái pháp luật theo iểm d, khoản 2 Điều Điều 170; khoản 1 Điều 157 c a Bộ luật hình sự là c căn cứ, úng người, úng tội và úng quy ịnh c a pháp luật. Xét mức hình phạt mà T a án cấp sơ thẩm tuyên ối v i các ị cáo là phù hợp v i tính chất, mức ộ do hành vi phạm tội c a bị cáo gây ra. Bị cáo Nguyễn Phúc T kháng cáo xin xem xét lại phần ịnh khung hình phạt và xin giảm nh hình phạt nhưng không cung cấp chứng cứ gì m i; ị cáo Lê Nhựt N kháng cáo xin giảm nh hình phạt c cung cấp xác nhận c a chính quyền ịa phương ị cáo là lao ộng chính trong gia ình c hoàn cảnh kh khăn, ang thờ cúng hai người bác là liệt sĩ. Đ y là tình ti t giảm nh trách nhiệm hình sự ược quy ịnh tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do , ề nghị Hội ng xét xử không chấp nhận kháng cáo c a bị cáo Nguyễn Phúc T, giữ nguyên phần quy t ịnh c a ản án sơ thẩm về hình phạt ối v i ị cáo Phúc T. Chấp nhận kháng cáo c a ị cáo Lê Nhựt N, sửa phần quy t ịnh c a ản án sơ thẩm về hình phạt ối v i ị cáo Nhựt N, giảm nh cho bị cáo t 01 tháng n 03 tháng tù.

Luật sư ào chữa cho bị cáo Nguyễn Phúc T phát biểu quan iểm thống nhất v i quan iểm c a vị ại diện Viện kiểm sát cũng như án sơ thẩm về tội danh áp dụng ối v i bị cáo. Tuy nhiên, xin Hội ng xét xử xem xét, bị cáo không giữ vai trò chính trong vụ án, bởi l : Căn cứ vào h sơ vụ án và cáo trạng xác ịnh Lương Minh L2 là người ề xuất bắt giữ bị hại; L2 n i v i T: B y giờ thả ra chưa chắc lấy ược tiền . Mặt khác, h sơ thể hiện c hai nh m i nợ ị hại, nh m thứ nhất g m T, Đ1, N; nhóm thứ hai có Chánh, Đ. Bị cáo ch nhận c a bị hại 40.000.000 ng, một tuần sau Đ m i nhận ược tiền. Án sơ thẩm buộc bị cáo T cưỡng oạt 80.000.000 ng c a bị hại là chưa ph hợp. Bị cáo nhận 40.000.000 ng thì ch chịu trách nhiệm phần 40.000.000 ng. Trong khi án sơ thẩm nhận ịnh các bị cáo phạm tội không có t chức, các bị cáo phạm tội hoàn toàn ộc lập nhau nhưng lại buộc chung là gây bất lợi cho bị cáo. Ngoài ra, bị hại c ơn yêu cầu không xử lý hình sự ối v i bị cáo và xin giảm nh hình phạt cho ị cáo T nhưng án sơ thẩm chưa xem xét cho ị cáo. Đề nghị Hội ng xét xử xem xét sửa án sơ thẩm, giảm nh hình phạt cho ị cáo Nguyễn Phúc T.

Các bị cáo th a nhận hành vi phạm tội, không tranh luận. Lời n i sau c ng, các ị cáo xin giảm nh hình phạt.

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong h sơ vụ án

ược tranh tụng tại phiên t a, Hội ng xét xử nhận ịnh như sau:

[1] Tại phiên t a, ị cáo Nguyễn Phúc T và Lê Nhựt N th a nhận toàn ộ hành vi phạm tội c a mình. Lời khai nhận tội c a các ị cáo ph hợp v i lời khai c a các bị cáo tại cơ quan iều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp v i lời khai c a các ị cáo khác, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng c ng các chứng cứ trong h sơ vụ án, cơ sở ể xác ịnh: Xuất phát t việc người bị hại Phạm Hoàng N2 thi u tiền T, N2, Đ1, nhưng không trả mà hứa h n nhiều lần r i ỏ trốn. Sau khi bi t ược chỗ c a bị hại ang ở, Nguyễn Phúc T ch ộng r rê, khởi xư ng các ị cáo khác tìm ị hại ể i nợ, c ng nhau thực hiện việc ắt, giữ người ị hại ể e dọa, g y áp lực, uy hi p tinh thần uộc ị hại tìm cách trả tiền.

[2] Hội ng xét xử xét thấy các ị cáo Nguyễn Phúc T và Lê Nhựt N là người ã trưởng thành, có thể chất, tinh thần phát triển bình thường, có khả năng iều khiển hành vi, nhận thức ược pháp luật, c

năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Các ị cáo nhận thức ược tài sản hợp pháp c a con người luôn ược pháp luật ảo vệ. N u người nào c hành vi x m phạm n tài sản c a người khác một cách trái pháp luật ều ị xử lý nghiêm minh. Th nhưng v i ý thức xem thường pháp luật, không tôn trọng tài sản c a người khác nên các bị cáo ã có hành vi như ã nêu trên. Khi thực hiện hành vi, các ị cáo nhận thức r hành vi c a mình là trái pháp luật và s ị pháp luật tr ng trị nhưng các ị cáo v n thực hiện. Chứng tỏ hành vi c a các ị cáo là cố ý trực ti p và tội phạm hoàn thành. Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Phúc T là người ch ộng khởi xư ng, r rê các bị cáo khác i tìm ị hại ể i nợ, c ng ng phạm thực hiện việc bắt giữ người bị hại ể gây áp lực, e dọa, uy hi p tinh thần uộc ị hại tìm cách trả tiền cho các ị cáo. Lúc T chưa nhận ược tiền, T nói cho L2 i t và L2 n i v i T: B y giờ thả ra chưa chắc lấy ược tiền nên L2 gọi iện thoại cho C1 nói giữ Nam Đ ở chỗ Chánh n khi nhận ược tiền s thả về, T v n thống nhất việt ắt gữ này. Khi ị hại hứa h n và trả tiền, ị hại gọi cho ị cáo T nói bị au nhứt vùng bị ánh nên T m i kêu Nhựt Nam chở bị hại i ệnh viện. Như vậy, t ầu cho n k t thúc sự việc, chính bị cáo T là người ch mưu, c ý ki n ch ạo các bị cáo khác thực hiện. Do , ị cáo phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án.

[3] T a án cấp sơ thẩm ã xét xử ị cáo ị cáo Nguyễn Phúc T và Lê Nhựt N về tội Cưỡng oạt tài sản theo iểm d, khoản 2 Điều Điều 170 và tội Bắt, giữ người trái pháp luật theo khoản 1 Điều 157 c a Bộ luật hình sự là c căn cứ, úng người, úng tội và úng quy ịnh c a pháp luật. Xét mức hình phạt mà T a án cấp sơ thẩm tuyên ối v i các bị cáo là phù hợp v i tính chất, mức ộ do hành vi phạm tội c a bị cáo gây ra. Bị cáo Nguyễn Phúc T kháng cáo xin xem xét lại phần ịnh khung hình phạt và xin giảm nh hình phạt nhưng không cung cấp ược chứng cứ gì m i. Do , Hội ng xét xử không chấp nhận kháng cáo c a bị cáo Nguyễn Phúc T, giữ nguyên phần quy t ịnh c a ản án sơ thẩm về hình phạt ối v i ị cáo Phúc T.

Đối v i bị cáo Lê Nhựt N kháng cáo xin giảm nh hình phạt c cung cấp xác nhận c a chính quyền ịa phương ị cáo là lao ộng chính trong gia ình có hoàn cảnh kh khăn, ang thờ cúng hai người bác là liệt sĩ và trong vụ án này, chính ị cáo là người chở người bị hại i ệnh viện ể iều trị. Đ y là các tình ti t giảm nh trách nhiệm hình sự ược quy ịnh tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà cấp sơ thẩm chưa xem xét cho ị cáo. Xét bị cáo Nhựt N có nhiều tình ti t giảm nh trách nhiệm hình sự ược quy ịnh tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự, giảm nh cho ị cáo N một phần hình phạt ở tội Cương oạt tài sản . Do , chấp nhận kháng cáo c a ị cáo Lê Nhựt N, sửa phần quy t ịnh c a ản án sơ thẩm về hình phạt ối v i ị cáo Nhựt N, giảm nh cho ị cáo N một phần hình phạt.

[4] T những nội dung trên, xét ề nghị c a ại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa ối v i các bị cáo là c cơ sở, phù hợp pháp luật, nên ược Hội ng xét xử xem xét chấp nhận.

Đối v i lời bào chữa cho bị cáo Nguyễn Phúc T c a vị luật sư là chưa ph hợp như Hội ng xét xử ph n tích ở phần trên nên không chấp nhận.

[5] Do kháng cáo c a ị cáo Nguyễn Phúc T không ược chấp nhận nên ị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật ịnh.

Do kháng cáo c a bị cáo Lê Nhựt N ược chấp nhận nên ị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần khác c a quy t ịnh ản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị c hiệu lực kể t ngày h t thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các l trên,

QUYẾT Đ NH:

1. Căn cứ iểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo c a ị cáo Nguyễn Phúc T. Giữ nguyên phần quy t ịnh c a bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt ối v i ị cáo Nguyễn Phúc T.

Căn cứ iểm b khoản 1 Điều 355 và iểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự;

Chấp nhận kháng cáo c a ị cáo Lê Nhựt N. Sửa phần quy t ịnh c a ản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt ối v i ị cáo Lê Nhựt N.

2. Tuyên ố các ị cáo Nguyễn Phúc T và Lê Nhựt N c ng phạm các tội Cưỡng oạt tài sản và Bắt, giữ người trái pháp luật .

Căn cứ iểm d, khoản 2 Điều 170; khoản 1 Điều 157; iểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự;

Xử phạt ị cáo Nguyễn Phúc T 03 ( a) năm 06 (sáu) tháng t về tội “Cưỡng oạt tài sản” và 09 (chín) tháng t về tội B t, giữ người trái pháp luật”.

Căn cứ Điều 55 Bộ luật hình sự, t ng hợp hình phạt chung cho hai tội, uộc ị cáo phải chấp hành là 04 ( ốn) năm 03 ( a) tháng t . Thời hạn t tính t ngày 18/12/2021.

Căn cứ iểm d, khoản 2 Điều 170; khoản 1 Điều 157; iểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự;

Xử phạt ị cáo Lê Nhựt N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng t về tội “Cưỡng oạt tài sản” và 06 Su) tháng t về tội B t, giữ người trái pháp luật”.

Căn cứ Điều 55 Bộ luật hình sự, t ng hợp hình phạt chung cho hai tội, uộc ị cáo phải chấp hành là 03 ( a) năm t . Thời hạn tù tính t ngày 08/12/2021.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo Nguyễn Phúc T phải chịu 200.000 án phí hình sự phúc thẩm.

Bị cáo Lê Nhựt N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các phần khác c a quy t ịnh ản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể t ngày h t thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm c hiệu lực pháp luật kể t ngày tuyên án.

Cỡ chữ