vanban.org

Bản án 187/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Phương Th.

Về nuôi con chung: Giao cháu Trần Đức T, sinh ngày 19/5/2013 và cháu Trần Đức Tr, sinh ngày 26/3/2016 cho chị Phạm Phương Th trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh Trần Đức Q cho đến khi cháu Tâm và cháu Trí trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có quyết định khác thay… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Phương Th.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN TÂY HỒ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 187/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 13-7-2023
V/v: Tranh chấp xin ly hôn và nuôi
con chung

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂY HỒ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Hoan

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Chu Thực

2. Ông Tống Văn Bính

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tây Hồ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Ánh - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 272/2022/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2023/QĐXX-ST ngày 25 tháng 5 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 42/2023/QĐ-HPT ngày 15 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phạm Phƣơng Th, sinh năm 1989

HKTT: B12, tổ 4, cụm 1 phường Xuân La, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội

Trú tại: Số nhà 5 ngõ 29 Dịch Vọng, phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.

2. Bị đơn: Anh Trần Đức Q, sinh năm 1984

HKTT: B12, tổ 4, cụm 1 phường Xuân La, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội.

Trú tại: B12 Tập thể Bộ giáo dục, ngõ 152 đường Võ Chí Công, phường Xuân La, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội.

- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Cháu Trần Đức T, sinh ngày 19/5/2013 và cháu Trần Đức Tr, sinh ngày 26/3/2016; Cùng trú tại: Số nhà 5 ngõ 29 Dịch Vọng, phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn có mặt; bị đơn vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 04/10/2022 và các lời khai tiếp theo tại Tòa án của chị Phạm Phương Th trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Đức Q kết hôn ngày 17/3/2012 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại địa chỉ B12 Tập thể Bộ giáo dục, ngõ 152 đường Võ Chí Công, phường Xuân La, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống, vợ chồng hạnh phúc, đến khi chị Thảo mang bầu cháu đầu tiên là vào khoảng giữa năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, cách sống, vợ chồng không có tiếng nói chung. Anh Quân thường xuyên đi uống rượu về muộn. Mỗi lẫn anh Quân đi uống rượu về là hay có hành vi bạo hành với chị Thảo. Việc này cả hai gia đình đều biết và cũng đã ngồi nói chuyện, khuyên bảo nhưng anh Quân vẫn không thay đổi. Từ đó đến nay, vợ chồng anh Quân chị Thảo không còn sự chia sẻ, thông cảm với nhau trong cuộc sống và công việc, không còn tin tưởng lẫn nhau. Anh Quân, chị Thảo thường xuyên cãi nhau dẫn đến ảnh hưởng tâm lý của các con. Do không chịu đựng được nữa nên từ tháng 10/2022, chị Thảo cùng hai con chuyển về nhà bố mẹ đẻ ở tại địa chỉ số nhà 5 ngõ 29 Dịch Vọng, phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội và nộp đơn ly hôn đến Tòa án.

Chị Thảo đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với anh Quân do anh chị không thể hòa giải được.

- Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Trần Đức T, sinh ngày 19/5/2013 và cháu Trần Đức Tr, sinh ngày 26/3/2016.

Khi ly hôn, chị xin trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc 02 con chung. Chị không yêu cầu anh Quân cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay chị là giám đốc của Công ty cổ phần HTM Việt Nam (địa chỉ: Tầng 20, số 147 Hoàng Quốc Việt, phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội), thu nhập hàng tháng của chị là 20.000.000đ/tháng và đảm bảo cuộc sống của các con. Hiện nay chị đang sống ở nhà của bố mẹ đẻ tại địa chỉ nhà 5 ngõ 29 Dịch Vọng, phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Nếu ly hôn, chị và các con vẫn ở tại địa chỉ này.

- Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Thảo không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí: Chị tự nguyện chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Ngoài yêu cầu, đề nghị nêu trên, chị Thảo không yêu cầu, đề nghị gì thêm.

Tại bản tự khai ngày 16/12/2022 bị đơn là anh Trần Đức Q trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Phạm Phương Th kết hôn ngày 17/3/2012 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn, gia đình anh Quân chị Thảo sống rất hạnh phúc hòa thuận, đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng trong việc sinh hoạt gia đình, từ đó dẫn đến những hành động không đáng có. Vợ chồng anh chị đã tìm nhiều biện pháp để cải thiện mối quan hệ này. Nay vợ chồng anh chị đã cải thiện được mối quan hệ và cùng nhau xây dựng, chăm lo con cái. Trước yêu cầu xin ly hôn của chị Thảo, anh Quân đề nghị Tòa án để vợ chồng anh Quân chị Thảo củng cố lại mối quan hệ, gia đình hạnh phúc trở lại. Hiện vợ chồng anh chị đã về ở chung với nhau tại nhà chung của anh chị. Anh chị sẽ có trách nhiệm với những việc đã làm, cùng nhau xử lý vấn đề liên quan đến Tòa án.

- Về con chung: Anh chị có 02 con chung.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Trần Đức Q đã được Tòa án nhân dân quận Tây Hồ đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và triệu tập đến Tòa án để tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng đều vắng mặt không có lý do. Anh không có quan điểm về con vì anh không muốn ly hôn nên không đề nghị Tòa án giải quyết về con chung.

- Về tài sản chung, công sức với hai bên gia đình, nợ chung: Do anh Quân không muốn ly hôn nên cũng không đề nghị Tòa án giải quyết.

Ngoài yêu cầu, đề nghị nêu trên, anh Quân không yêu cầu, đề nghị gì thêm.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Chị Thảo vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và lời trình bày tại các buổi làm việc trước. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xử cho chị ly hôn anh Trần Đức Q.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tây Hồ phát biểu ý kiến: Những người tiến hành tố tụng và nguyên đơn thực hiện đúng quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự;

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56, 81,82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội xử:

+ Về tình cảm: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Phương Th. Chị Thảo được ly hôn với anh Trần Đức Q.

+ Về con chung: Đề nghị Tòa án giao cháu Trần Đức T và cháu Trần Đức Tr cho chị Thảo trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh Quân cho đến khi cháu Tâm và cháu Trí trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có quyết định khác thay thế.

+ Về án phí: Chị Thảo phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tây Hồ và ý kiến trình bày của đương sự tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngày 04/10/2022, chị Phạm Phương Th nộp đơn khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với anh Trần Đức Q và yêu cầu xin được nuôi con chung tại Tòa án nhân dân quận Tây Hồ. Quan hệ pháp luật được xác định là tranh chấp về hôn nhân gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Theo xác nhận của Công an phường Xuân La, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội thể hiện: Anh Trần Đức Q cư trú tại địa chỉ B12, tổ 4, cụm 1 phường Xuân La, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội. Vì vậy, Tòa án nhân dân quận Tây Hồ thụ lý và giải quyết là đúng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Về việc bị đơn vắng mặt tại phiên tòa: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và các Giấy triệu tập tham gia phiên tòa của Tòa án cho những người tham gia tố tụng. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay, anh Quân tiếp tục vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không rõ lý do. Vì vậy, Tòa án xét xử vắng mặt anh Quân theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Phương Th và anh Trần Đức Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội ngày 17/3/2012. Xác định đây là hôn nhân hợp pháp.

Tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

“1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.

2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.”

Xét lời khai của chị Thảo thể hiện: Chị Thảo và anh Quân không còn thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không còn cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Từ tháng 10/2022, anh chị đã sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Điều đó thể hiện, anh chị đều không thực hiện nghĩa vụ sống chung với nhau. Hơn nữa, tại các buổi hòa giải, anh Quân đều vắng mặt không có lý do.

Ngoài ra, Tòa án cũng lấy lời khai của người làm chứng là bà Nguyễn Thị Bích Nhật (bút lục số 45), thể hiện: Quá trình chung sống chị Thảo và anh Quân có phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân của mâu thuẫn là do anh chị bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung và cũng được hai bên gia đình khuyên giải. Chị Thảo đã bỏ về nhà mẹ đẻ để sinh sống và ly thân từ tháng 10/2022 đến nay.

Hội đồng xét xử nhận thấy lời khai của chị Thảo và các tài liệu, chứng cứ do chị Thảo giao nộp và do Tòa án thu thập được thể hiện mâu thuẫn giữa chị Thảo và anh Quân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được; Hơn nữa, việc anh Quân không đến Tòa án làm việc để nêu quan điểm của mình, điều đó thể hiện anh không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình nên cần chấp nhận đơn của chị Thảo xử cho chị Phạm Phương Th được ly hôn với anh Trần Đức Q là phù hợp với quy định tại Điều 19, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về nuôi con chung: Chị Thảo và anh Quân có 02 con chung là cháu Trần Đức T, sinh ngày 19/5/2013 và cháu Trần Đức Tr, sinh ngày 26/3/2016.

Theo khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Việc giao con cho ai nuôi phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con”. Chị Thảo có nguyện vọng được nuôi 02 con. Chị Thảo có công việc, thu nhập và chỗ ở ổn định và có sự giúp đỡ của gia đình. Anh Quân không đến Tòa án để thể hiện quan điểm và giao nộp các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho điều kiện nuôi con.

Ngoài ra, Tòa án đã tiến hành lấy ý kiến của cháu Tâm và cháu Trí, cả hai cháu đều có nguyện vọng được ở với mẹ. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở giao cháu Tâm và cháu Trí cho chị Thảo trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: Chị Thảo tự nguyện không yêu cầu anh Quân cấp dưỡng nuôi con. Anh Quân không có ý kiến trình bày về việc yêu cầu cấp dưỡng nên tạm hoãn việc cấp dưỡng đối với anh Quân cho đến khi có yêu cầu hoặc có sự thay đổi khác. Anh Quân có quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

Về chia tài sản chung và công nợ chung: Chị Thảo không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, căn cứ Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án không giải quyết. Tuy nhiên, do anh Quân vắng mặt tại phiên tòa nên để đảm bảo quyền lợi cho các đương sự, Tòa án chưa giải quyết phần tài sản chung trong vụ án này và dành quyền khởi kiện bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.

Về án phí: Chị Phạm Phương Th phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 56, 81,82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Phương Th. Chị Phạm Phương Th được ly hôn với anh Trần Đức Q.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Trần Đức T, sinh ngày 19/5/2013 và cháu Trần Đức Tr, sinh ngày 26/3/2016 cho chị Phạm Phương Th trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh Trần Đức Q cho đến khi cháu Tâm và cháu Trí trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có quyết định khác thay thế.

Anh Quân có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Phạm Phương Th phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng chị đã nộp theo Biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0032982 ngày 28/10/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Thảo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Quân có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Bùi Văn Hoan

Cỡ chữ