vanban.org

Bản án 187/2022/DSST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

TAND TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 28/07/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Kiều T buộc bà Lâm Thị Như P và ông Cao Thanh Ng phải trả cho bà Nguyễn Kiều T tổng số tiền 142.

Kể từ ngày bà Nguyễn Kiều T có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bà Lâm Thị Như P và ông Cao Thanh Ng còn phải chịu khoản tiền lãi phát sinh của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự. 2/ Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch 7.… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "bà T kiện đòi nợ hụi"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Kiều T buộc bà Lâm Thị Như P và ông Cao Thanh Ng phải trả cho bà Nguyễn Kiều T tổng số tiền 142.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 21 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 187/2022/DS-ST
Ngày 29 – 7 – 2022
V/v tranh chấp hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thu

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Hoàng Khởi

Ông Nguyễn Hoàng Kha

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thúy Kiều – Là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Trong các ngày 28, 29 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 216/2022/TLST-DS ngày 13 tháng 5 năm 2022 về việc tranh chấp hụi, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 187/2022/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Kiều T, sinh năm 1986. Địa chỉ: Nhà không số, hẻm 453, đường N, khóm 6, phường C, thành phố C, tỉnh Cà Mau, (có mặt).

* Bị đơn: Bà Lâm Thị Như P, sinh năm 1982, (có mặt);

Ông Cao Thanh Ng, sinh năm 1979, (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Đăng ký hộ khẩu tại nhà không số, đường N, khóm 2, phường C, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Tạm trú tại địa chỉ: Nhà không số, hẻm 453, đường N, khóm 6, phường C, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thúy N, sinh năm: 1975. Địa chỉ: Số 67, đường H, khóm 8, phường N, thành phố C, tỉnh Cà Mau, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải và lời trình bày của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án và được bổ sung tại phiên tòa thể hiện: Bà Nguyễn Kiều T và bà Lâm Thị Như P có mối quan hệ quen biết, bà P làm chủ hụi, bà T tham gia hụi, bà T đã tham gia các dây hụi do bà P làm chủ hụi cụ thể như sau:

- Hụi loại 2.000.000đ gồm 24 chưng, hụi mở ngày 29/9/2019 âl, mỗi tháng khui một lần, bà tham gia 01 chưng, bà đóng được 21 lần, số tiền thực tế đã đóng là 22.400.000đ thì bà P tuyên bố bể hụi. Nay chưng hụi này, tính cả lãi hụi bà P nợ bà 42.000.000đ.

- Loại hụi 1.000.000đ, mỗi tháng khui 1 lần, mở hụi ngày 15/4/2020 âl gồm 54 chưng, bà tham gia 02 chưng, đã đóng được 17 lần số tiền bà đã đóng 02 chưng hụi này là 13.000.000đ. 02 Chưng hụi này, tính cả lãi hụi bà P nợ bà 34.000.000đ;

- Loại hụi 1.000.000đ, mỗi tháng khui 1 lần, mở hụi ngày 01/12/2020 âl, gồm 39 chưng, bà tham gia 02 chưng, đã đóng được 09 lần số tiền bà đã đóng 02 chưng là 8.000.000đ. 02 chưng hụi này, tính cả lãi hụi bà P nợ bà 18.000.000đ;

Tổng 05 chưng hụi do bà P làm chủ, bà đã đóng được 43.400.000đ. Đến ngày 07/4/2022 bà và bà P tổng kết số tiền hụi bà P nợ 05 chưng hụi là 46.000.000đ, trong đó có 2.600.000đ là tiền bà cho bà P mượn để đóng hụi cho bà N thay cho bà P.

Ngoài ra, do tin tưởng nên khi bà P nhờ bà tham gia hụi do bà N làm chủ, dùm cho bà P, bà đã đồng ý. Bà tham gia dùm bà P 02 chưng hụi loại hụi 3.000.000đ, dây hụi có 29 chưng, mở ngày 15/8/2020 âl, một tháng khui 01 lần, mỗi lần khui bỏ giá cố định 600.000đ, phải đóng hụi sống 2.400.000đ/tháng/1 chưng hụi, tham gia được 03 kỳ, đến kỳ thứ 4 ngày 15/12/2020âl bà P hốt 01 chưng, đến kỳ thứ 07 bà P hốt chưng còn lại. Đến ngày 15/12/2022 âl hụi mới mãn. Từ khi vào hụi bà N làm chủ, bà P đóng hụi cho bà N đều thông qua bà, đến ngày 15/10/2021 bà P tuyên bố bể hụi những dây hụi do bà P làm chủ, từ đó cũng ngưng đóng hụi chết cho bà N, do bà chơi dùm. Sau khi tổng kết lại ngày 07/4/2022, bà P còn nợ tiền hụi chết tham gia chơi hụi do bà N làm chủ tính đến mãn hụi số tiền 80.500.000đ. Đến ngày xét xử, bà đã phải đóng hụi dùm bà P số tiền 38.500.000đ và còn phải có trách nhiệm với chủ hụi (bà N) cho những chưng hụi chết mà bà P đã hốt, với số tiền 36.000.000đ.

Trong thời gian từ khi thỏa thuận đến nay đã 02 kỳ đóng hụi nhưng bà P mới chỉ đưa cho bà 3.000.000đ để đóng hụi cho bà N, bà P không thực hiện đúng thỏa thuận như biên nhận nợ nên nay bà khởi kiện yêu cầu bà P cùng chồng là ông Cao Thanh Ng phải trả cho bà số tiền hụi bà đã tham gia do bà P làm chủ là 94.000.000đ và tiền hụi đóng hụi chết của bà P tổng số tiền 77.500.000đ. Tại phiên tòa, bà thay đổi yêu cầu khởi kiện. Đối với số tiền hụi bà tham gia do bà P làm chủ, số tiền vốn bà đã đóng được là 43.400.000đ, bà yêu cầu bà P và ông Ng cùng có trách nhiệm trả cho bà tiền vốn đã đóng và lãi hụi theo quy định của pháp luật. Đối với số tiền bà đã đóng hụi chết thay cho bà P bà yêu cầu bà P và ông Ng cùng có trách nhiệm trả cho bà 74.500.000đ và khoản lãi theo quy định pháp luật mức lãi 20%/năm đối với số tiền bà đã đóng cho bà N thay bà P tính đến nay là 38.500.000đ, tính theo ngày âm lịch, cụ thể như sau: Ngày 15/9/2021 bà T đóng hụi thay số tiền 2.600.000đ; ngày 15/10/2021 bà T đóng hụi thay số tiền 6.000.000đ; ngày 15/11/2021 bà Trang đóng hụi thay số tiền 2.500.000đ; ngày 15/12/2021 bà T đóng hụi thay số tiền 5.000.000đ; ngày 15/01/2022 bà T đóng hụi thay số tiền 4.500.000đ; ngày 15/02/2022 bà T đóng hụi thay số tiền 2.500.000đ; ngày 15/3/2022 bà T đóng hụi thay số tiền 6.000.000đ; ngày 15/4/2022 bà T đóng hụi thay số tiền 3.000.000đ; ngày 15/5/2022 bà T đóng hụi thay số tiền 3.000.000đ; ngày 15/6/2022 bà Trang đóng hụi thay số tiền 6.000.000đ.

* Tại bản tự khai, biên bản hòa giải và lời trình bày của bà Lâm Thị Như P trong quá trình giải quyết vụ án, được bổ sung tại phiên tòa thể hiện: Đối với yêu cầu của bà T, về phần hụi bà T chơi hụi do bà N làm chủ hụi dùm cho bà là đúng, bà không quen biết bà N. Số tiền hụi bà N làm chủ nay bà còn nợ 77.500.000đ đúng như bà T trình bày.

Đối với phần hụi bà làm chủ, bà T có tham gia hụi như bà T trình bày là đúng. Số tiền bà T đã đóng đúng như bà T trình bày 46.000.000đ. 02 chưng hụi dây 1.000.000đ khui ngày 15/4/2020 âl gồm 54 chưng bà T thực tế đóng được 13.520.000đ, 02 chưng hụi dây 1.000.000đ khui ngày 01/12/2020 âl T đóng được 8.140.000đ. Dây hụi 2.000.000đ gồm 24 chưng, hụi khui ngày 29/9/2019 bà T thực tế đóng được bao nhiêu bà không nhớ.

Ngày 07/4/2022 bà và bà T có thỏa thuận mỗi tháng bà trả cho bà T từ 2.000.000đ – 6.000.000đ để trả nợ hụi bà N, thời gian trả từ ngày 09 đến ngày 15 âm lịch hàng tháng, khi nào bà trả hết nợ hụi do bà N làm chủ, bà mới trả nợ hụi 05 chưng của bà T tham gia, bà T chỉ lấy lại số tiền đã đóng của 05 chưng hụi là 46.000.000đ.

Bà thừa nhận và đồng ý trả cho bà T số tiền nợ hụi bà Ngân 77.500.000đ và vốn hụi bà T đã đóng 05 chưng là 46.000.000đ. Ông Cao Thanh Ng là chồng của bà có biết bà mở hụi và biết bà T tham gia hụi, ông Ng không biết việc bà hốt hụi do bà N làm chủ. Số tiền hụi bà hốt dây hụi của bà N bà sử dụng vào việc lắp hụi cho những người tham gia hụi do bà làm chủ mà không đóng hụi sau khi hốt hụi theo thỏa thuận và cho những người quen của bà mượn tiền nhưng họ không trả nợ cho bà theo thỏa thuận. Đối với số tiền đầu thảo thỏa thuận là 50% số tiền của 01 chưng hụi/ 01 lần hốt hụi bà được hưởng mỗi khi hội viên hốt hụi (là 500.000đ/01 lần hốt hụi loại hụi 1.000.000đ) bà sử dụng tiền này vào sinh hoạt chi tiêu trong gia đình. Nay bà T yêu cầu bà thừa nhận có trách nhiệm trả nợ cho bà T, ông Ng phải làm lo chi phí cho con ăn học nên ông Ng không có trách nhiệm trả nợ cho bà T. Tại phiên tòa, bà P thống nhất số tiền hụi bà T đã đóng 05 chưng hụi là 43.400.000đ và đống ý tiền lãi hụi theo quy định pháp luật. Đối với số tiền bà T đã đóng hụi cho bà N thay cho bà, bà thống nhất về thời gian và số tiền như bà Trang trình bày. Thống nhất trả lãi theo quy định pháp luật cho bà T, mức lãi 20%/năm. Bà P xác định ông Ng chồng bà không biết việc bà làm chủ hụi, nên bà chịu trách nhiệm một mình trả nợ cho bà T, ông Ng không có trách nhiệm trả nợ cho bà Trang vì bà và ông Ng đã thỏa thuận với nhau, khoản thu nhập của bà P để trả nợ, còn thu nhập của ông Ng phải để nuôi con và lo chi phí gia đình.

Tại văn bản ngày 10/6/2022, bà Trần Thúy N trình bày: Bà Nguyễn Kiều T có tham gia hụi do bà làm chủ, hụi loại 3.000.000đ/tháng khui ngày 15/8/2020 âm lịch, 01 tháng khui 01 lần vào ngày 15 âm lịch hàng tháng, hụi bỏ cố định mỗi tháng 600.000đ, bà T tham gia 02 chưng hụi và đã hốt 02 chưng vào ngày 15/12/2020 âm lịch và ngày 15/3/2021 âm lịch, hụi đến ngày 15/12/2022 âm lịch mãn. Khi tham gia hụi, bà T có nói việc tham gia hụi dùm ai đó nhưng bà không đồng ý vì bà không nhận chơi hụi qua trung gian, nhưng bà T vẫn tham gia hụi, bà chỉ biết giao dịch với bà T không quen, cũng không biết bà P là ai. Sau khi hốt hụi, bà T vẫn đóng hụi đầy đủ cho bà nên bà không yêu cầu gì trong vụ án. Đồng thời yêu cầu không tham gia tố tụng trong vụ án này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp nợ hụi, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với ông Cao Thanh Ng và bà Trần Thúy N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và Hòa giải, triệu tập đến lần thứ hai tham gia phiên tòa xét xử nhưng bà N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, ông Ng vắng mặt không rõ lý do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà N và ông Ng theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với yêu cầu của nguyên đơn, xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà P và bà T đều thống nhất với nhau về số chưng hụi tham gia trong các dây hụi, ngày mở hụi, số tiền bà T đã đóng, thống nhất với nhau việc bà T có tham gia hụi do bà N làm chủ dùm bà P, số tiền hụi bà T đã đóng cho bà N, cụ thể như sau:

Dây hụi 2.000.000đ, gồm 24 chưng bà T tham gia 1 chưng, đã đóng được 21 kỳ bằng 22.400.000đ

Dây hụi 1.000.000đ, gồm 54 chưng bà T tham gia 02 chưng, đã đóng được 17 kỳ bằng 13.500.000đ

Dây hụi 1.000.000đ, gồm 39 chưng bà T tham gia 02 chưng, đã đóng được 9 kỳ bằng 8.000.000đ

Đối với lãi hụi, bà T yêu cầu tính theo quy định của pháp luật bà P thống nhất. Căn cứ điều 21 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường. Mức lãi suất mỗi kỳ mở hụi của từng dây hụi được xác định cụ thể như sau:

Dây hụi 2.000.000đ, bà T đã đóng được 21 kỳ bằng 21.900.000đ, còn lại 3 kỳ phải đóng 6.000.000đ: 20%/năm x [(21.900.000đ + 6.000.000đ) – 21.900.000đ] : 3 kỳ = 400.000đ. Như vậy, mỗi kỳ hụi, bà T được hưởng mức lãi 400.000đ, bà T đã đóng hụi được 21 kỳ thì được hưởng tiền lãi hụi 8.4000.000đ.

Dây hụi 1.000.000đ, gồm 54 chưng bà T tham gia 02 chưng, đã đóng được 17 kỳ bằng 13.000.000đ, còn lại 37 kỳ phải đóng 74.000.000đ: 20%/năm x [(13.000.000đ + 74.000.000đ) – 13.000.000đ] : 37 kỳ = 400.000đ. Như vậy, mỗi kỳ hụi, bà T được hưởng mức lãi 400.000đ/2 chưng hụi, bà T đã đóng hụi được 17 kỳ thì được hưởng tiền lãi 02 chưng hụi là 6.8000.000đ.

Dây hụi 1.000.000đ, gồm 39 chưng bà Trang tham gia 02 chưng, đã đóng được 9 kỳ bằng 8.000.000đ, còn lại 30 kỳ phải đóng 60.000.000đ: 20%/năm x [(8.000.000đ + 60.000.000đ) – 8.000.000đ] : 30 kỳ = 400.000đ. Như vậy, mỗi kỳ mở hụi, bà T được hưởng mức lãi 400.000đ/2 chưng, bà T đã đóng hụi được 09 kỳ thì được hưởng tiền lãi hụi 3.600.000đ.

Tổng tiền lãi hụi bà T được hưởng khi tham gia 05 chưng hụi trong 03 dây hụi do bà P làm chủ là 18.800.000đ (8.400.000đ + 6.800.000đ + 3.600.000đ). Số tiền vốn và lãi hụi bà T được trả là 62.200.000đ (18.800.000đ + 43.400.000đ)

Hụi bà T đã đóng cho bà N thay cho bà P cụ thể: Ngày theo ngày âm lịch 15/9/2021 (20/10/2021dl) bà T đóng hụi số tiền 2.600.000đ; ngày 15/10/2021 (19/11/2021dl) bà T đóng hụi số tiền 6.000.000đ; ngày 15/11/2021 (18/12/2021dl) bà T đóng hụi số tiền 2.500.000đ; ngày 15/12/2021 (17/01/2022dl) bà T đóng hụi số tiền 5.000.000đ; ngày 15/01/2022 (15/02/2022dl) bà đóng hụi số tiền 4.500.000đ; ngày 15/02/2022 (17/3/2022dl) bà T đóng hụi số tiền 2.500.000đ; ngày 15/3/2022 (15/4/2022dl) bà T đóng hụi số tiền 6.000.000đ; ngày 15/4/2022 (15/5/2022dl) bà T đóng hụi số tiền 3.000.000đ; ngày 15/5/2022 (13/6/2022dl) bà T đóng hụi số tiền 3.000.000đ; ngày 15/6/2022 (13/7/2022dl) bà T đóng hụi số tiền 6.000.000đ. Bà T yêu cầu tính lãi theo quy định pháp luật 20%/năm, bà P thừa nhận số tiền và thời gian mà bà T đóng hụi thay bà và bà đồng ý trả lãi cho bà T với mức lãi 20%/năm. Đây là sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này. Theo đó, tiền lãi mà bà P phải trả cho bà T tính đến ngày xét xử sơ thẩm 29/7/2022, số tiền 3.279.000đ, cụ thể như sau:

2.600.000đ x 20%/năm x 09 tháng 10 ngày = 404.000đ

6.000.000đ x 20%/năm x 08 tháng 11 ngày = 836.000đ

2.500.000đ x 20%/năm x 07 tháng 11 ngày = 307.000đ

5.000.000đ x 20%/năm x 06 tháng 13 ngày = 536.000đ

4.500.000đ x 20%/năm x 05 tháng 14 ngày = 410.000đ

2.500.000đ x 20%/năm x 04 tháng 13 ngày = 185.000đ

6.000.000đ x 20%/năm x 03 tháng 15 ngày = 350.000đ

3.000.000đ x 20%/năm x 02 tháng 15 ngày = 125.000đ

3.000.000đ x 20%/năm x 01 tháng 16 ngày = 76.000đ

6.000.000đ x 20%/năm x 15 ngày = 50.000đ.

Đối với số tiền hụi chết của 02 chưng hụi bà T tham gia dùm bà P bà T còn phải tiếp tục đóng cho bà N đến khi hụi mãn là 36.000.000đ. Mặc dù số tiền này chưa đến hạn đóng nhưng do bà P đã vi phạm thỏa thuận với bà T, bà P không đóng đủ tiền hụi chết và không đúng thời gian, trong 02 chưng hụi tham gia dùm, bà P cũng thống nhất cộng số tiền này vào khoản nợ bà T, do đó Hội đồng xét xử ghi nhận thỏa thuận này của các đương sự. Như vậy, số tiền bà P phải trả cho bà T là 43.400.000đ + 18.800.000 + 41.100.000đ + 36.000.000đ + 3.279.000đ = 142.579.000đ.

Về trách nhiệm thanh toán, bà T yêu cầu cả bà P và chồng là ông Ng cùng có trách nhiệm trả nợ, bà P không đồng ý, mặc dù tại phiên tòa bà cho rằng ông Ng không biết việc bà làm chủ hụi nhưng qua lời khai của bà T thể hiện việc khui hụi hàng tháng diễn ra tại nhà bà P và ông Ng, hơn nữa tại biên bản hòa giải bà P xác định ông Ng biết việc bà làm chủ hụi, sau khi bể hụi thì bà P và ông có bàn bạc sắp xếp nguồn thu nhập của bà P để trả nợ còn thu nhập của ông Ng để lo chi phí trong gia đình và nuôi con, điều này thể hiện bà P ông Ng có nguồn thu nhập dùng chung để lo cho cuộc sống chung và cho gia đình, thu nhập từ việc làm chủ hụi được sử dụng cho cuộc sống gia đình của bà P ông N, nên ông Ng phải cùng có trách nhiệm thanh toán khoản nợ hụi cho bà T. Đối với hụi bà P nhờ bà T chơi dùm dù bà P xác định ông Ng không biết nhưng số tiền bà hốt hụi được để tràn hụi bà làm chủ và cho vay phục vụ cho nguồn thu nhập gia đình. Vì vậy, ông Ng phải có trách nhiệm thanh toán khoản nợ này.

Đối với bà N cho rằng bà T đang đóng hụi chết cho bà đúng như thỏa thuận, bà N không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Bà P ông Ng phải chịu. Bà T không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 471 Bộ luật dân sự 2015; Các Điều 26, 35, 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 18, 21 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phư\ờng; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1/ Chấp yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Kiều T buộc bà Lâm Thị Như P và ông Cao Thanh Ng phải trả cho bà Nguyễn Kiều T tổng số tiền 142.579.000đ (Một trăm bốn mươi hai triệu năm trăm bảy mươi chín ngàn đồng).

Kể từ ngày bà Nguyễn Kiều T có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bà Lâm Thị Như P và ông Cao Thanh Ng còn phải chịu khoản tiền lãi phát sinh của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự.

2/ Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch 7.129.000đ (Bảy triệu một trăm hai mươi chín ngàn đồng) bà Lâm Thị Như P và ông Cao Thanh Ng phải nộp. Bà Nguyễn Kiều T không phải chịu án phí, được nhận lại tiền tiền tạm ứng án phí đã nộp 4.362.000đ (Bốn triệu ba trăm sáu mươi hai ngàn đồng) theo biên lai thu số 0001337 ngày 13/5/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bà Nguyễn Kiều T, bà Lâm Thị Như P có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Trần Thúy N, ông Cao Thanh Ng có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ