vanban.org

Bản án 187/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Ngô Quyền, TP. Hải Phòng Tuyên án 25/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Truy tố ra trư¬ớc Toà án nhân dân quận Ngô Quyền để xét xử bị can Trần Văn Đ, về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Kèm theo Cáo trạng có: Hồ sơ vụ án gồm có các bút lục theo bảng thống kê tài liệu kèm theo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Truy tố ra trư¬ớc Toà án nhân dân quận Ngô Quyền để xét xử bị can Trần Văn Đ, về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGÔ QUYỀN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 187/2021/HS-ST
Ngày 25-11-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Giang

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hà Thị Mão

Bà Phạm Thị Ngọc Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Lương Thu H - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 177/2021/TLST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 199/2021/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:

Trần Văn Đ, sinh ngày 15 tháng 02 năm 1967 tại thành phố Hải Phòng. Nơi cư trú: Số 14/47 đường N, phường M, quận N, thành phố H; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 4/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn K và bà Trần Thị G; gia đình có 03 anh em, bị cáo là con út; có vợ là Nguyễn Thị Thanh T đã ly hôn và có 01 con; tiền án: Tại Bản án số 70/2013/HSST ngày 09/7/2013, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; tại Bản án số 25/2018/HSST ngày 20/4/2018, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 136/HSST ngày 14/6/1985, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội trộm cắp tài sản của công dân, thời gian thử thách 18 tháng; tại Bản án số 146/HSST năm 1985, Tòa án nhân dân quận Lê Chân xử phạt 12 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản của công dân; tại Bản án số 334/HSST ngày 27/9/1988, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 30 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản của công dân, bồi thường thiệt hại 24.000đ; tại Bản án số 417/HSST ngày 09/12/1991, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, 01 năm tù về tội Đánh bạc, tổng hợp hình phạt 04 năm tù; tại Bản án số 394/HSST ngày 07/11/1995, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 04 năm tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân; tại Bản án số 63/HSST ngày 09/3/2000, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 05 năm tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân; tại Bản án số 159/HSST ngày 09/11/2005, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 24 tháng tù về tội Đánh bạc; tại Bản án số 22/2008/HSST ngày 29/02/2008, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền xử phạt 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản là 01 máy cắt trị giá 600.000 đồng (đều đã được xóa án tích); bị bắt, tạm giữ ngày 16/8/2021, chuyển tạm giam ngày 20/8/2021; có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

+ Chị Nguyễn Thanh H, sinh năm 1973; nơi cư trú: Số 168 đường L, phường M, quận N, thành phố H; vắng mặt.

+ Cháu Lê Văn T, sinh năm 2004; nơi cư trú: Số 168 đường L, phường M, quận N, thành phố H; vắng mặt.

Người đai diện hợp pháp của cháu Lê Văn T: Anh Lê Anh T1, nơi cư trú: Số 168 đường L, phường M, quận N, thành phố H; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ ngày 01/8/2021, Trần Văn Đ một mình đi bộ ra khu vực đường L, phường M, quận N, thành phố H xem có nhà nào sơ hở thì trộm cắp tài sản. Khi Đ đi đến trước cửa nhà số 168 đường L, phường M, quận N, thành phố H thì trời mưa to. Khi trú mưa tại đây, Đ nhìn qua cổng nhà số 168 Lê Thánh Tông có nhiều xe máy để trong sân. Đ quan sát thấy cổng nhà số 168 có hai lớp cửa, chỉ có cổng sắt bên ngoài có khóa, cửa xếp không khóa. Đ đi bộ sang bên kia đường Lê Thánh Tông đối diện nhà số 168 tìm thấy 01 thanh sắt trơn loại phi 16 dài khoảng 30 đến 40 cm. Đ cầm thanh sắt đi sang cổng nhà số 168 Lê Thánh Tông, cho một đầu thanh sắt vào tai khóa cổng khóa trên thanh cài ngang của cổng, đầu còn lại Đ dùng hai tay cầm rồi dùng lực ấn mạnh xuống phía dưới làm tai khóa bung ra. Đ dùng tay phải cho vào trong tháo khóa cổng rồi lấy khóa cổng đút vào túi quần bên phải, Đ tiếp tục cho tay phải vào trong mở thanh ngang cài cổng. Đ mở cổng đi vào trong sân, tay vẫn cầm thanh sắt để phá khóa, Đ quan sát thấy có 01 xe máy Honda Airblade màu đen, BKS: 15B2-034.27 còn cắm chìa khóa ở ổ khóa đầu xe quay vào tường khu bếp của gia đình là xe máy của chị Nguyễn Thanh H. Đ để thanh sắt vào chỗ để chân bên phải của xe, dùng hai tay quay chiếc xe, dắt xe ra ngoài cổng. Đ khép cổng lại rồi nổ máy xe điều khiển đi trên đường Lê Thánh Tông hướng đi về ngã ba Nguyễn Trãi. Khi đi được khoảng 100m, Đ dùng chân phải gạt thanh sắt dùng để phá cổng xuống đường rồi dùng tay phải cho vào túi quần bên phải móc khóa cổng vứt đi. Sau đó, Đ điều khiển xe máy mang về nhà mình cất giấu. Sau đó, Đ quay lại nhà số 168 đường L, phường M, quận N, thành phố H , mở cổng, vào trong sân tiếp tục lấy 01 xe máy điện DIBAO màu đen BKS: 15MĐ1 – 522.36 của anh Lê Văn T để ở trước cửa nhà, đầu xe quay về hướng cửa nhà đuôi xe quay ra cổng. Đ dùng hai tay quay xe lại và dắt ra ngoài cổng. Đ khép cổng lại và dắt xe đi theo hướng đường Lê Thánh Tông ngã ba Nguyễn Trãi về nhà mình rồi cất giấu ở gầm cầu thang. Sau đó Đ điều khiển xe máy Airblade BKS: 15B2-034.27 đi chơi. Cùng ngày Công an quận Ngô Quyền nhận được tin báo từ quần chúng nhân dân đến nhà Đ kiểm tra phát hiện, thu giữ tại gầm cầu thang nhà Đ 01 chiếc xe máy điện DIBAO màu đen BKS: 15MĐ1 – 522.36. Đ biết việc cơ quan Công an đã thu giữ xe nên Đ không về nhà. Ngày 04/8/2021, Đ đến bệnh viện Đa khoa quận Ngô Quyền gửi xe máy Airblade BKS: 15B2-034.27, nhận vé xe số 399. Sau đó Đ đi ra ngoài gọi điện thông báo cho người nhà biết và gửi chìa khóa xe máy cùng vé xe cho người nhà giao nộp cho Cơ quan công an để tiến hành thu giữ chiếc xe Airblade BKS: 15B2- 034.27 tại Bệnh viện Đa khoa quận Ngô Quyền.

Đến ngày 16/8/2021, Trần Văn Đ đến Công an quận Ngô Quyền đầu thú về hành vi trộm cắp tài sản của mình.

Tại Kết luận định giá trong tố tụng hình sự số 49 ngày 17/08/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận Ngô Quyền kết luận: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Airblade màu đen, BKS: 15B2- 034.27, tại thời điểm bị xâm hại, tài sản trên có giá 24.500.000 đồng; 01 xe máy điện Dibao Xman màu đen, BKS 15MĐ1-522.36, tại thời điểm bị xâm hại, tài sản trên có giá 6.800.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị xâm hại là 31.300.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung trên.

Vật chứng của vụ án: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Airblade màu đen, BKS: 15B2- 034.27 và 01 xe máy điện Dibao Xman màu đen, BKS 15MĐ1-522.36 đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Nguyễn Thanh H và anh Lê Văn T; 01 gọng gà bằng thép xoắn dài khoảng 80cm là tài sản do bà Trần Thị G mẹ của Trần Văn Đ giao nộp, không liên quan đến vụ án nên đã trả lại cho chủ sở hữu là bà Trần Thị G; 01 áo mưa nhãn hiệu Sơn Thủy bên ngoài màu xám, bên trong màu vàng xét thấy là vật chứng của vụ án cần chuyển Chi cục thi hành án dân sự quận bảo quản chờ xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Nguyễn Thanh H và anh Lê Văn T đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường và yêu cầu gì khác.

Tại bản Cáo trạng số 174/CT-VKSNQ ngày 22/10/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Trần Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà bị cáo Trần Văn Đ khai nhận toàn bộ nội dung vụ án như cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền tại phiên toà vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Văn Đ và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn Đ với mức án từ 04 năm đến 05 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; do bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên không đề nghị hình phạt bổ sung đối với bị cáo; về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết; căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 áo mưa nhãn hiệu Sơn Thủy bên ngoài màu xám, bên trong màu vàng (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/10/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền).

Về án phí: Bị cáo Trần Văn Đ phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Sau khi đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận, bị cáo đều thành khẩn khai nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để sớm trở lại xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

- Về tội danh:

Lời khai của bị cáo Trần Văn Đ tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, nội dung bản cáo trạng và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 02 giờ ngày 01/8/2021 tại nhà số 168 đường L, phường M, quận N, thành phố H . Bị cáo Trần Văn Đ có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe máy Honda Airblade màu đen, BKS: 15B2-034.27 của chị Nguyễn Thanh H và 01 xe máy điện DIBAO màu đen BKS: 15MĐ1 – 522.36 của cháu Lê Văn T. Tại Kết luận định giá trong tố tụng hình sự số 49 ngày 17/08/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận Ngô Quyền kết luận: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Airblade màu đen, BKS: 15B2- 034.27, tại thời điểm bị xâm hại, tài sản trên có giá 24.500.000 đồng, 01 xe máy điện Dibao Xman màu đen, BKS 15MĐ1-522.36, tại thời điểm bị xâm hại, tài sản trên có giá 6.800.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị xâm hại là 31.300.000 đồng. Vì vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo Trần Văn Đ có 02 tiền án: Bản án số 70/2013/HSST ngày 09/7/2013, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Bản án số 25/2018/HSST ngày 20/4/2018, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Tính đến nay cả hai bản án chưa được xóa án, vì vậy phạm tội lần này Bị cáo phải chịu tình tiết định khung tăng nặng được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là đúng theo quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Xét về nhân thân của bị cáo có 10 tiền án, trong đó có 02 tiền án chưa được xóa , qua đó cho thấy bị cáo là người có nhân thân rất xấu, ý thức chấp hành pháp luật kém và liên tục phạm tội. Vì vậy cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian dài đủ để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo.

- Về tình tiết tăng nặng:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

- Về tình tiết giảm nhẹ:

Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, khi bị phát hiện tội phạm bị cáo đã tự nguyện ra đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và là căn cứ để Hội đồng xét xử xém xét khi lượng hình đối với bị cáo. Quan điểm Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ là người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo là không có căn cứ, Hội đồng xét xử không chấp nhận.

- Về hình phạt bổ sung:

Do bị cáo không có thu nhập, công việc ổn định nên không xem xét xử phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 áo mưa nhãn hiệu Sơn Thủy bên ngoài màu xám, bên trong màu vàng không còn giá trị sử dụng căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy (theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/10/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền).

- Về trách nhiệm dân sự:

Những bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- về quyền kháng cáo đối với bản án:

Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; ĐIều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt: Trần Văn Đ 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/8/2021.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sư; căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 áo mưa nhãn hiệu Sơn Thủy bên ngoài màu xám, bên trong màu vàng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/10/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền.

- Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trần Văt Đ phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, những bị hại và người đại diện của họ có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống Đ hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Bị hại;

- VKSND thành phố Hải Phòng;

- VKSND quận Ngô Quyền;

- Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền;

- Cơ quan Thi hành án hình sự Công an quận Ngô Quyền;

- Chi cục THADS quận Ngô Quyền;

- Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng;

Nguyễn Hồng Giang

- PV 06 Công an thành phố Hải Phòng;

- Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng;

- Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;

- Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hồng Giang Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Bị hại;

- VKSND thành phố Hải Phòng;

- VKSND quận Ngô Quyền;

- Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền;

- Cơ quan Thi hành án hình sự Công an quận Ngô Quyền;

- Chi cục THADS quận Ngô Quyền;

- Trại tạm giam Công an thành phố Hải

Nguyễn Hồng Giang Phòng;

- PV 27 Công an thành phố Hải Phòng;

- Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng;

- Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;

- Lưu hồ sơ vụ án.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hồng Giang Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Bị hại;

- VKSND thành phố Hải Phòng;

- VKSND quận Ngô Quyền;

- Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền;

- Cơ quan Thi hành án hình sự Công an quận Ngô Quyền;

- Chi cục THADS quận Ngô Quyền;

- Trại tạm giam Công an thành phố Hải

Nguyễn Hồng Giang Phòng;

- PV 27 Công an thành phố Hải Phòng;

- Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng;

- Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Căn cứ vào các tình tiết và chứng cứ nêu trên:

KẾT LUẬN

Vào khoảng 02 giờ sáng ngày 01/8/2021, tại nhà số 168 Lê Thánh Tông, Máy Chai, Ngô Quyền, Hải Phòng, Trần Văn Đ đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sản, lén lút chiếm đoạt 01 xe máy Honda Airblade BKS: 15B2- 034.27 trị giá 24.500.000 đồng của chị Nguyễn Thanh H và chiếm đoạt 01 xe máy điện nhãn hiệu Dibao BKS MĐ1-522.36 trị giá 6.800.000 đồng của anh Lê Văn T. Tổng giá trị tài sản Đ chiếm đoạt là 31.300.000 đồng.

Như vậy, có đủ căn cứ để xác định bị can có lý lịch dưới đây đã phạm tội như sau:

Họ và tên: Trần Văn Đ (giới tính: Nam), sinh ngày: 15/02/1967

Nơi cư trú: số 14/47 Nguyễn Trãi, Máy Tơ, Ngô Quyền, Hải Phòng.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 4/10;

Con ông: Trần Văn Kê (đã chết)

Con bà: Trần Thị Gái, sinh năm: 1928

Gia đình có 03 anh em, bị can là con út; có vợ là Nguyễn Thị Thanh Tâm, sinh năm 1987 (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: 10 tiền án

Bị can bị áp dụng biện pháp ngăn Tạm giữ ngày 16/8/2021, chuyển tạm giam ngày 20/8/2021.

Bị can Trần Văn Đ đã phạm tội Trộm cắp tài sản quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Điều 173 Bộ luật Hình sự, quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác ..

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

...

g, Tái phạm nguy hiểm...”

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị can không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị can được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội tự nguyện khắc phục hậu quả”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, và đầu thú quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

QUYẾT ĐỊNH

1. Truy tố ra trư¬ớc Toà án nhân dân quận Ngô Quyền để xét xử bị can Trần Văn Đ, về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

2. Kèm theo Cáo trạng có:

- Hồ sơ vụ án gồm có các bút lục theo bảng thống kê tài liệu kèm theo.

- Vật chứng: 01 áo mưa nhãn hiệu Sơn Thủy bên ngoài màu xám, bên trong màu vàng chuyển Chi cục thi hành án dân sự quận bảo quản chờ xử lý.

- Danh sách những người Viện kiểm sát đề nghị Tòa án triệu tập đến phiên tòa./.

Cỡ chữ