vanban.org

Bản án 187/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Nghệ An Tuyên án 27/11/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/11/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về án phí: Bị cáo Trần văn Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần văn Đ - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về án phí: Bị cáo Trần văn Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự; Điều 341 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 187 /2020/HS-PT
Ngày 27-11-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải M

Các Thẩm phán: Ông Hoàng Ngọc Anh

Bà Nguyễn Thị Huyền

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Kỳ - Thẩm tra viên, Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 228/2020/TLPT-HS ngày 13/10/2020 đối vớ i bị cáo Trần Văn Đ do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 53/2020/HSST ngày 25/7/2020 của Toà án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An

- Bị cáo có kháng cáo:

Trần Văn Đ, tên gọi khác: Không; sinh ngày 20 tháng 4 năm 1974; Nơi cư trú: xóm Sơn Tây,xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc:Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn V và bà Trần Thị N; có vợ: Nguyễn Thị P và 04 con; tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/12/2019 cho đến ngày 24/ 01/ 2020 thì được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do làm ăn thua lỗ, nợ nhiều và bị những người cho vay tiền đòi nợ nên Trần Văn Đ nghĩ đến việc tìm người thuê làm giấy chứng M nhân dân, giấy phép lái xe ô tô giả với mục để đi thuê xe ô tô mang đi cầm cố lấy tiền trả nợ. Đầu tháng 11 năm 2019 Trần Văn Đ đã vào các trang mạng trên internet thuê một người (không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) làm các giấy tờ giả gồm Chứng M nhân dân, giấy phép lái xe ô tô mang tên Trần Văn M, sinh năm 1976, trú tại xóm 8, xã Quỳnh Thắng, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Sau 7 ngày, Trần Văn Đ nhận được các giấy tờ giả trên qua đường bưu điện, Trần Văn Đ đi xuống thành phố Vinh vào cửa hàng cho thuê xe ô tô tự lái của chị Trần Thị H trú tại số 214, đường Nguyễn Sỹ Sách, phường Hưng Dũng, thành phố Vinh, Nghệ An. Đ thuê của chị H một chiếc xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, loại Fortuner, màu bạc, biển kiểm soát 37A-293.06. Sau khi thuê được xe ô tô, Trần Văn Đ lấy máy điện thoại di động chụp lại giấy đăng ký xe ô tô, giấy kiểm định xe ô tô 37A - 293.06 rồi gửi lại ảnh cho người đã làm giấy tờ giả hôm trước để thuê làm giả các giấy tờ xe mang tên Trần Văn M cho phù hợp với Chứng M nhân dân, giấy phép lái xe giả. Giá thuê làm các giấy tờ giả là 5.000.000 đồng. Ít ngày sau, Trần Văn Đ lại nhận lại được các giấy tờ giả thuê làm lần 2. Sáng ngày 02 tháng 12 năm 2019, Trần Văn Đ cầm theo 4 loại giấy tờ giả gồm Chứng M nhân dân, giấy phép lái xe, Giấy chứng nhận kiểm định, Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô đến của hàng của chị Trần Thị H, thuê lại chiếc xe ô tô Fortuner 37A – 293.06. Sau khi thuê được xe ô tô, Trần Văn Đ điều khiển xe đến chợ Vinh cắt thêm một chiếc chìa khóa xe rồi điều khiển xe đến cầm tại hiệu cầm đồ của chị Trần Thị Châu L, tại khối Bắc Mỹ, phường Quỳnh Thiện, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An. Trần Văn Đ gặp chị Trần Thị Châu L rồi đưa các giấy tờ giả gồm Chứng M nhân dân, giấy phép lái xe, Giấy chứng nhận kiểm định, Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô đều mang tên Trần Văn M và nói với chị L cho cầm cố chiếc xe với giá 450.000.000 đồng. Chị Trần Thị Châu L xem xong các giấy tờ, không biết đó là các giấy tờ giả và nghĩ rằng chiếc xe đó là của chính chủ nên đồng ý cho Trần Văn Đ cầm cố xe ô tô 37A - 293.06. Do không đủ tiền nên chị Trần Thị Châu L đã gọi điện thoại vay tiền của chị Hồ Thị Nga. Say khi vay tiền của chị Nga, chị L đã rút tiền đưa cho Trần Văn Đ 450.000.000 đồng. Sau khi có tiền Trần Văn Đ cầm về huyện Nghĩa Đàn trả nợ hết. Chị Trần Thị Châu L nói chị Hồ Thị Nga đưa xe về cửa hàng chị Nga để cất xe. Sáng ngày 05 tháng 12 năm 2019, Trần Văn Đ gọi điện cho chị Trần Thị Châu L hỏi xe để ở đâu có khách muốn mua, để chụp ảnh gửi cho khách (Mục đích của Trần Văn Đ là xem xe tô ở đâu để lấy xe ô tô đó về trả cho Chị Trần Thị H), chị Trần Thị Châu L trả lời xe đang ở cửa hàng đồng thời gọi điện cho Chị Hồ Thị Nga đưa xe ô tô ra của hàng của chị L. Trần Văn Đ đi đến của hàng thì thấy xe ô tô 37A - 293.06 nên đã lấy điện thoại ra chụp ảnh sau đó giao lại xe cho chị L rồi Trần Văn Đ đi ra 1 đoạn theo dõi xem xe để ở đâu để đến lấy xe ô tô. Sau khi Trần Văn Đ giao lại xe thì chị Trần Thị Châu L nói chồng mình lái xe vào giao cho chị Hồ Thị Nga. Trần Văn Đ lúc này đi theo và biết xe ô tô để tại sân nhà chị Nga, đến khoảng gần 12 giờ ngày 05/12/2019 Trần Văn Đ thấy vắng người rồi đi lại xe ô tô dùng chìa khóa xe mở xe và điều khiển xe ô tô 37A - 293.06 về trả cho chị Trần Thị H rồi đi về nhà. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày chị Hồ Thị Nga đi ra sân không thấy xe ô tô đâu nên đã gọi điện thoại lại cho chị Trần Thị Châu L cùng mọi người đi tìm kiếm và trình báo Công an thị xã Hoàng Mai. Đến ngày 10/12/2019, biết được việc làm sai trái của mình Trần Văn Đ đã đến cơ quan CSĐT Công an thị xã Hoàng Mai đầu thú.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 53/2020/HSST ngày 25/7/2020 của Toà án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An đã quyết định: Áp dụng: Điểm a, khoản 3 Điều 174 và điểm b khoản 3 điều 341, điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 54, điều 55 BLHS:

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn Đ 04 (bốn) năm tù về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho hai tội là 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành án nhưng được trừ thời gian bị tạm giữ tạm giam ngày 10/12/2019 cho đến ngày 24/01/2020.

Đồng thời Bản án sơ thẩm còn xử lý vật chứng, tuyên án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 03/8/2020 bị cáo Trần Văn Đ làm đơn kháng cáo với nội dung: Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt với lý do bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho người bị hại, có công cứu giúp người bị nạn và bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn xin giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn Đ.

Đề nghị Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174, điểm b khoản 3 Điều 341, điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 và Điều 55 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 03 (Ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, 02 (Hai) năm tù về tội " Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức". Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho hai tội 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án nhưng được trừ thời gian bị tạm giữ tạm giam từ ngày 10/12/2019 cho đến ngày 24/01/2020.

Bị cáo không tranh luận với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Về nội dung:

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Trần Văn Đ khai và thừa nhận toàn bô ̣ hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm đã xét xử đối vớ i bi ̣ cáo , phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ để xác định:Do làm ăn thua lỗ không có tiền trả nợ, nên vào khoảng tháng 11 năm 2019, Trần Văn Đ đã thuê làm các giấy tờ giả cửa cơ quan, tổ chức gồm: Chứng M nhân dân, giấy phép lái xe, giấy đăng ký xe ô tô 37A - 293.06 mang tên Trần Văn M, sinh năm 1976, trú tại xóm 8, xã Quỳnh Thắng, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An với mục đích thuê xe ô tô lừa cầm cố để lấy tiền trả nợ. Sau khi có 04 loại giấy tờ trên, sáng ngày 02/12/2019 Đ đã đến cửa hàng cho thuê xe ôt tô tự lái của chị Trần Thị H tại thành phố Vinh và thuê xe ô tô biển kiểm soát 37A - 293.06 của chị Trần Thị H cùng các giấy tờ liên quan rồi điều khiển xe đến khu vực chợ Vinh cắt thêm một chìa khóa xe ô tô. Sau đó đem xe ôt tô và các loại giấy tờ Đ đã làm trước đó cho chị Châu L để cầm cố xe. Chị Châu L kiểm tra không biết đó là giấy tờ giả nên đã đồng ý cho Đ cầm cố xe ô tô nêu trên với số tiền 450.000.000đ. Sau khi lấy được tiền Đ mang tiền trả nợ hết. Đến ngày 05/12/2019 Đ đi đến địa điểm để xe ô tố trên dùng khóa mở xe và điều khiển xe ô tô về trả cho chị H. Cùng ngày chị Châu L trình báo Cơ quan điều tra Công an thị xã Hoàng Mai. Ngày 10/12/2019 Đ đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Hoàng Mai đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo Đ đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội: “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm a, khoản 3 Điều 174, điểm b khoản 3 điều 341 Bộ luật hình sự là có căn cứ đúng quy định của pháp luật .

Xét kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, Hội đồng xét xử thấy rằng: Sau khi phạm tội đã ra đầu thú về hành vi phạm tội của mình, bản thân bị cáo có nhân thân tốt, đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại và người bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, trong cuộc sống có thành tích cứu giúp người bị nạn đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản bị cáo đã khắc phục toàn bộ hậu quả do mình gây ra, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ cho bị cáo, quá trình sinh sống tại địa pH có công giúp đỡ công an phát hiện tội phạm, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên cần giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Do đó cần chấp nhận kháng cáo bị cáo giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.

Về án phí: Bị cáo Trần Văn Đ được chấp nhận kháng cáo nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn Đ; sửa Bản án sơ thẩm giảm hình phạt cho bị cáo Trần Văn Đ.

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174, điểm b khoản 3 Điều 341, điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 và Điều 55 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 03 (Ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, 02 (Hai) năm tù về tội " Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức". Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho hai tội 05 (năm) tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án nhưng được trừ thời gian bị tạm giữ tạm giam từ ngày 10/12/2019 cho đến ngày 24/01/2020.

Về án phí: Bị cáo Trần văn Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

̀

́ T XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ