vanban.org

Bản án 187/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Hồng Đ.

Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Hồng Đ và ông Trừ Minh T chấm dứt kể từ ngày bản án ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Giấy chứng nhận kết hôn số 44 quyển số 01/2008, đăng ký ngày 29/05/2008 do Ủy ban nhân dân xã T huyện C, thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Nguyễn Thị Hồng Đ và ông Trừ Minh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đào- Tuấn"
  • Tòa quyết gì? 1- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Hồng Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 187/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 25-03-2020
V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT AM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Ôn Kim Chi

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Nguyên

2. Bà Nguyễn Thị Thúy Oanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa: Bà Phan Mỹ Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 03 năm 2020, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 990/2019/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 09 năm 2019 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 02 năm 2020 và quyết định hoãn phiên tòa số: 26/2020/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 03 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng Đ, sinh năm: 1985. (Vắng mặt)

Địa chỉ: xã T huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Ông Trừ Minh T, sinh năm: 1982. (Vắng mặt)

Địa chỉ: xã T huyện C, thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 24 tháng 6 năm 2019 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn - bà Nguyễn Thị Hồng Đ trình bày nhƣ sau:

Bà Đ và ông Trừ Minh T tự nguyện quen biết nhau, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T huyện C, thành phố Hồ Chí Minh. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do cuộc sống chung không hòa hợp, cãi vã nhau, lạnh nhạt với nhau, từ đó vợ chồng chung sống với nhau không còn hạnh phúc nữa. Nay bà Nguyễn Thị Hồng Đ yêu cầu được ly hôn với ông Trừ Minh T, bà Đ và ông T đã ly thân với nhau từ năm 2017 đến nay.

- Về con chung: Có 02 (Hai) con chung:

1. Trừ Minh K, sinh ngày: 05/01/2009 (Giới tính: Nam).

2. Trừ Minh Đ, sinh ngày: 10/11/2014 (Giới tính: Nam).

Bà Nguyễn Thị Hồng Đ yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi dưỡng trẻ Trừ Minh Đ. Bà Đ đồng ý giao trẻ Trừ Minh K cho ông Trừ Minh T được quyền tiếp tục nuôi dưỡng. Hai bên không ai cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Hồng Đ tự khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Hồng Đ tự khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa bà Nguyễn Thị Hồng Đ vắng mặt và nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt bà Đ.

Bị đơn – ông Trừ Minh T đã được Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh tống Đ tại nơi cư trú của ông xã T huyện C, thành phố Hồ Chí Minh gồm các văn bản tố tụng của Tòa án như: Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập đương sự ; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ; Thông báo kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử ; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông T vắng mặt tại các phiên hòa giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và các phiên tòa xét xử.

Tại phiên tòa ông Trừ Minh T vắng mặt không lý do.

Tại phiên tòa sơ thẩm Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật tố tụng và giải quyết vụ án:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm nghị án đã thực hiện đúng các quy định Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu ly hôn theo đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng Đ. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Hồng Đ chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về áp dụng pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung:

Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Hồng Đ nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh yêu cầu ly hôn với ông Trừ Minh T. Đây là tranh chấp về ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân.

Về Thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo kết quả xác minh của Công an xã Lê Minh Xuân: “Đương sự Trừ Minh T, sinh năm: 1982 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ xã T huyện C, thành phố Hồ Chí Minh và hiện nay đương sự Trừ Minh T còn sinh sống tại địa chỉ xã T huyện C, thành phố Hồ Chí Minh”. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Tại phiên tòa nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Hồng Đ vắng mặt và có nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt bà Đ. Bị đơn – ông Trừ Minh T vắng mặt tại phiên tòa xét xử đến lần thứ hai. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định là vẫn tiến hành xét xử.

Về các yêu cầu của các đương sự:

Nguyên đơn - bà Nguyễn Thị Hồng Đ yêu cầu ly hôn với bị đơn - ông Trừ Minh T ; Về con chung: Bà Đ yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi dưỡng trẻ Trừ Minh Đ. Bà Đ đồng ý giao trẻ Trừ Minh K cho bị đơn - ông Trừ Minh T được quyền tiếp tục nuôi dưỡng. Hai bên không ai cấp dưỡng nuôi con ; Về tài sản chung và nợ chung: Bà Đ tự khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn – ông Trừ Minh T vắng mặt không đến Tòa án, không nộp văn bản cũng như đến Tòa án trình bày ý kiến để bảo vệ quan điểm của mình về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nên được coi là từ bỏ quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn theo đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng Đ đối với ông Trừ Minh T. Bà Nguyễn Thị Hồng Đ chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hồng Đ và Trừ Minh T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Bình Lợi, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh (Theo giấy chứng nhận kết hôn số 44, quyển số 01/2008, đăng ký ngày 29/05/2008 của Ủy ban nhân dân xã Bình Lợi, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh). Do đó, hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Hồng Đ và ông Trừ Minh T là hôn nhân hợp pháp.

Hội đồng xét xử xét thấy tình nghĩa vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ và thực hiện các công việc trong gia đình. Hai bên đã không thực hiện đúng quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, để đời sống chung không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không Đ được, tình cảm vợ chồng lạnh nhạt với nhau, sống ly thân với nhau, để một trong hai bên có yêu cầu ly hôn. Bị đơn không lên Tòa án bảo vệ quan điểm yêu cầu đoàn tụ của mình và có biện pháp khắc phục, hàn gắn tình cảm vợ chồng, đem lại hạnh phúc gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là phù hợp quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Nguyên đơn xác nhận có 02 (Hai) con chung như sau:

1. Trừ Minh K, sinh ngày: 05/01/2009 (Giới tính: Nam).

2. Trừ Minh Đ, sinh ngày: 10/11/2014 (Giới tính: Nam).

Theo kết quả xác minh ngày 14/11/2019 của Ủy ban nhân dân xã Lê Minh Xuân, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh về tình trạng hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Hồng Đ và ông Trừ Minh T: “Trong quá trình chung sống tại địa phương bà Đ và ông T không có xảy ra mâu thuẩn. Từ tháng 05 năm 2017 bà Đ ra ngoài sống ly thân đến nay, trẻ Minh Đ sống với mẹ, Minh K sống với cha. Tình hình 02 trẻ sống tốt, học hành bình thường”. Tại biên bản ghi nhận ý kiến trẻ Trừ Minh K có nêu nguyện vọng của trẻ được sống cùng cha, vì hiện tại trẻ đang sống với cha, cũng tiện cho trẻ đi học. Hội đồng xét xử xét cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn được quyền tiếp tục nuôi dưỡng trẻ Trừ Minh Đ, bị đơn được quyền tiếp tục nuôi dưỡng trẻ Trừ Minh K là phù hợp tình hình trẻ đang sinh sống.

Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với bà Nguyễn Thị Hồng Đ, ông Trừ Minh T cho đến khi các bên có đơn yêu cầu.

Bà Nguyễn Thị Hồng Đ, ông Trừ Minh T có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con sau này.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Hồng Đ tự khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Hồng Đ tự khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu

cầu ly hôn.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 19, 56, 57, 58 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, 93, 94, 95, 97, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Hồng Đ.

Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Hồng Đ và ông Trừ Minh T chấm dứt kể từ ngày bản án ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Giấy chứng nhận kết hôn số 44 quyển số 01/2008, đăng ký ngày 29/05/2008 do Ủy ban nhân dân xã T huyện C, thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Nguyễn Thị Hồng Đ và ông Trừ Minh T không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2- Về con chung: Có 02 (Hai) con chung:

- Trừ Minh K, sinh ngày: 05/01/2009 (Giới tính: Nam).

- Trừ Minh Đ, sinh ngày: 10/11/2014 (Giới tính: Nam).

Bà Nguyễn Thị Hồng Đ được quyền tiếp tục nuôi dưỡng trẻ Trừ Minh Đ.

Ông Trừ Minh T được quyền tiếp tục nuôi dưỡng trẻ Trừ Minh K.

Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với bà Nguyễn Thị Hồng Đ, ông Trừ Minh T cho đến khi các bên có đơn yêu cầu.

Bà Nguyễn Thị Hồng Đ, ông Trừ Minh T có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con sau này.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3- Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Hồng Đ tự khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

4- Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Hồng Đ tự khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

5- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Hồng Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà bà Đ đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0002816 ngày 04/09/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Cục Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh. Bà Đ đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

6- Về quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo:

Bà Nguyễn Thị Hồng Đ và ông Trừ Minh T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt, niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự ; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ