vanban.org

Bản án 187/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Tuyên án 14/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuy n bố bị cáo Nguyễn Minh C phạm tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

/ Về hình phạt: 1. Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh C 03 (ba) năm tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN MINH C- SỬ DỤNG CON DẤU, TÀI LIỆU GIẢ CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC; LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ qu…"
  • Tòa quyết gì? Tuy n bố bị cáo Nguyễn Minh C phạm tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 187/2019/HS-ST
Ngày: 14 -10 -2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh;

2. Ông Phan Chí Thiện.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Quyết - Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mai Hƣờng - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 155/2019/TLST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 206/2019/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

H và t n: Nguyễn Minh C, sinh năm 1989. Tại: B. Nơi KHKTT: Số 1145, Đ, khu phố 9, phƣờng H, thành phố T, tỉnh B. Trình độ h c vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Không; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị B; bị cáo chƣa có vợ con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị bắt ngày 13/02/2019 và tạm giam cho đến nay (có mặt).

- Bị hại: Ông Vƣơng Quốc B, sinh năm 1977. Cùng địa chỉ: Số 1470, Đ, khu 6, phƣờng Đ, thành phố T, tỉnh B (vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Công ty TNHH vận tải hành khách Thanh L; Địa chỉ trụ sở: Số 79, đƣờng H, tổ 8, khu phố 3, phƣờng P, thành phố T, tỉnh B. Ngƣời đại diện theo pháp luật: Ông Phùng Thanh L. Địa chỉ: Số 79, đƣờng H, tổ 8, khu 3, phƣờng P, thành phố T, tỉnh B. (vắng mặt)

+ Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 196. Cùng địa chỉ: Số 1145, Đ, khu phố 9, phƣờng H, thành phố T, tỉnh B (có đơn xét xử vắng mặt)

+ Công ty TNHH MTV Du lịch Minh N. Địa chỉ trụ sở: Số 81, đƣờng H, tổ 19, khu 3, phƣờng P, thành phố T, tỉnh B. Ngƣời đại diện theo pháp luật: Ông Vƣơng Quốc H, sinh năm 1984. Địa chỉ: Số 81, đƣờng H, tổ 19, khu 3, phƣờng P, thành phố T, tỉnh B (vắng mặt)

+ Bà Trần Thị Thanh T, sinh năm 1982. Địa chỉ: Số 1470, Đ, khu 6, phƣờng Đ, thành phố T, tỉnh B. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phi n tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Ông Vƣơng Quốc H, sinh năm 1984. Địa chỉ: Số 81, đƣờng H, khu 3, phƣờng P, thành phố T, tỉnh B là Giám đốc Công ty TNHH MTV Dịch vụ du lịch Minh N theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành vi n số 3702489884 ngày 12/8/2016 của Phòng đăng ký kinh doanh – Sở Kế hoạch và Đầu tƣ tỉnh Bình Dƣơng với ngành nghề kinh doanh dịch vụ cho thu xe ô tô tự lái.

Ông Vƣơng Quốc B, sinh năm 1977. Địa chỉ: Số 1470, đƣờng Đ, khu 6, phƣờng Đ, thành phố T, tỉnh B là chủ tiệm cầm đồ Bình T theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 46A8005829 ngày 24/11/2017 của Phòng đăng ký kinh doanh – Sở Kế hoạch và Đầu tƣ tỉnh Bình Dƣơng với ngành nghề kinh doanh dịch vụ cầm đồ.

Nguyễn Minh C sinh năm 1989. Địa chỉ: Số 1145, đƣờng Đ, khu 9, phƣờng H, thành phố T, tỉnh B thƣờng mang tài sản đến cầm cố tại Tiệm cầm đồ Bình T của Vƣơng Quốc B và cũng đến Công ty TNHH MTV Dịch vụ du lịch Minh N của Vƣơng Quốc H thu xe ô tô tự lái khoảng 04 lần, trong đó có xe ô tô hiệu Toyota Innova màu bạc, biển số 61A-218.XX, số khung RL4XW42G5F9416808, số máy 1TR7979129, những lần thu xe này C đều trả tiền thu xe đầy đủ và trả xe đúng thời hạn cho H theo nhƣ thỏa thuận trong hợp đồng.

Khoảng 09 giờ ngày 12/7/2018, Nguyễn Minh C đến Công ty TNHH MTV Dịch vụ du lịch Minh N để thu xe ô tô tự lái, mục đích để chạy dịch vụ chở khách. Tại đây, C ký hợp đồng thu xe ô tô hiệu Toyota Innova màu bạc biển số 61A-218.XX với ông Vƣơng Quốc H. Thời hạn thu là 15 ngày kể từ ngày 12/7/2018 đến ngày 25/7/2018, giá thuê là 800.000 đồng/ngày. Trong hợp đồng thu xe có quy định Nguyễn Minh C không đƣợc phép đem xe đi thế chấp hoặc cầm cố với bất kỳ lý do nào và khi cần gia hạn th m thời hạn thu xe thì phải thông báo cho ông Vƣơng Quốc H trƣớc 12 tiếng (Bút lục số 113). Sau khi ký xong hợp đồng, ông H đã giao cho C: 01 Sổ chứng nhận kiểm định số 3984142 do Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới Sở giao thông vận tải tỉnh Bình Dƣơng cấp ngày 30/10/2017 (Bản chính) và xe ô tô biển số 61A-218.77. Còn C đã thanh toán cho ông H số tiền 12.000.000 đồng là tiền thuê xe trong 15 ngày và lái xe đi. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày 12/7/2018, khi C đang sử dụng xe ô tô biển số 61A-218.XX để chở khách thì C nhận đƣợc điện thoại của ngƣời nam tên P (Không rõ lai lịch) g i đến để đòi nợ số tiền 30.000.000 đồng và đe d a nếu C không trả tiền thì P sẽ đánh C. Lúc này, do C không có tiền trả nợ cho P n n nảy sinh ý định thu ngƣời làm giả Giấy chứng nhận đăng ký xe của xe ô tô biển số 61A-218.XX mang tên Nguyễn Minh C với mục đích là sử dụng giấy giả này để mang xe ô tô biển số 61A-218.XX cầm cố lấy tiền trả nợ và ti u xài cá nhân. Thực hiện ý định trên, C tìm kiếm thông tin tr n mạng Internet thì li n hệ đƣợc với 01 ngƣời nam (Không rõ lai lịch và địa chỉ li n hệ) nhận làm giấy tờ giả n n C đặt làm giả Giấy chứng nhận đăng ký xe của xe ô tô biển số 61A-218.XX với giá 2.500.000 đồng, cả 02 thỏa thuận sẽ giao nhận giấy giả vào tối cùng ngày, đồng thời C cung cấp cho ngƣời làm giả về thông tin của xe ô tô biển số 61A-218.XX dựa tr n Sổ chứng nhận kiểm định mà trƣớc đó H đã giao cho C.

Khoảng 20 giờ cùng ngày, theo nhƣ đã hẹn trƣớc, C đi đến khu vực cầu Phú Cƣờng, địa chỉ tại phƣờng C, thành phố T, tỉnh B thì gặp 01 ngƣời đàn ông chạy xe mô tô Grab (Không rõ nhân thân, lai lịch và biển số xe) và nhận Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả của xe ô tô biển số 61A-218.XX mang tên Nguyễn Minh C đồng thời C đƣa cho ngƣời đàn ông này số tiền 2.500.000 đồng là tiền thu làm giả giấy tờ xe. Sau đó, C điều khiển xe ô tô biển số 61A-218.XX đến tiệm cầm đồ Bình T, địa chỉ tại số 1470, đƣờng Đ, khu 6, phƣờng Đ, thành phố T, tỉnh B gặp Vƣơng Quốc B để cầm cố xe. Tại đây, C đƣa cho B xem Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô đã thuê ngƣời làm giả trƣớc đó (số 012514 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bình Dƣơng cấp ngày 25/4/2015 cho xe ô tô hiệu Toyota Innova màu bạc, biển số 61A-218.XX, số khung RL4XW42G5F9416808, số máy 1TR7979129 mang t n Nguyễn Minh C) và nói với B đây là xe ô tô của C. Anh B kiểm tra đối chiếu thông tin từ Giấy chứng nhận đăng ký xe mà C đƣa cho B và xe ô tô biển số 61A-218.XX thấy trùng khớp n n B đã đồng ý nhận cầm xe cho C với số tiền 450.000.000 đồng. Sau khi ký hợp đồng cầm cố xe và nhận tiền, C đem tiền đi trả nợ rồi bỏ trốn khỏi địa phƣơng và tiêu xài cá nhân hết số tiền tr n.

Đến ngày 04/8/2018, ông Vƣơng Quốc H thấy C không đem trả xe n n đã trình báo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một. Quá trình xác minh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một đã thu giữ: 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 012514 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bình Dƣơng cấp ngày 25/4/2015 cho xe ô tô hiệu Toyota Innova màu bạc, biển số 61A-218.XX, số khung RL4XW42G5F9416808, số máy 1TR7979129 mang t n Nguyễn Minh C; xe ô tô biển số 61A-218.XX; 01 hợp đồng cầm cố xe ô tô biển số 61A-218.XX; 01 Sổ chứng nhận kiểm định số 3984142 do Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới Sở giao thông vận tải tỉnh Bình Dƣơng cấp ngày 30/10/2017 của xe ô tô biển số 61A-218.XX.

Ngày 07/12/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một ra Quyết định khởi tố vụ án số 73, Quyết định khởi tố bị can số 98 và Quyết định truy nã số 01 đối với Nguyễn Minh C về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Đến ngày 14/02/2019, Nguyễn Minh C đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Ngày 16/8/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng ra Quyết định trƣng cầu giám định số 367/QĐ trƣng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng giám định 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 012514 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bình Dƣơng cấp ngày 25/4/2015 cho xe ô tô hiệu Toyota Innova màu bạc biển số 61A-218.XX (số khung RL4XW42G5F9416808, số máy 1TR7979129) mang tên Nguyễn Minh C là thật hay do đƣợc làm giả? Nếu giả thì đƣợc làm nhƣ thế nào?

Căn cứ Bản kết luận giám định số: 270/GĐ-PC09 ngày 22/8/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng xác định: Phôi và hình dấu tròn có nội dung “C.H.X.H.C.N VIỆT NAM * CÔNG AN TỈNH BÌNH DƢƠNG” tr n 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 012514, t n chủ xe Nguyễn Minh C. Địa chỉ: H, T, B, đề ngày 25/4/2015 (ký hiệu A) là giả bằng phƣơng pháp in phun màu điện tử; Chữ ký mang t n “Trần Minh H” tr n tài liệu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ ký của Trần Minh H tr n tài liệu mẫu (ký hiệu M) không phải do cùng một ngƣời ký ra.

Ngày 09/8/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một đã giao trả có 01 xe ô tô hiệu Toyota Innova màu bạc, biển số 61A-218.XX và 01 Sổ chứng nhận kiểm định số 3984142 do Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới Sở giao thông vận tải tỉnh Bình Dƣơng cấp ngày 30/10/2017 của xe ô tô biển số 61A-218.XX cho ông Vƣơng Quốc H. Ông H không có y u cầu gì n n không đặt ra xem xét giải quyết.

Ngày 28/9/2018, ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị Bé, sinh năm 1966. Cùng địa chỉ: số 1145, đƣờng Đ, khu 9, phƣờng H, thành phố T, tỉnh B (là mẹ và cha của Nguyễn Minh C) đã tự nguyện thay mặt Cảnh bồi thƣờng số tiền 450.000.000đồng cho ông Vƣơng Quốc B để khắc phục hậu quả do Nguyễn Minh C chiếm đoạt của ông B số tiền 450.000.000 đồng. Ông Vƣơng Quốc B đã nhận lại đủ số tiền 450.000.000 đồng và không có y u cầu gì n n không đặt ra xem xét, giải quyết. Bà B và ông C cũng không có y u cầu gì n n không đặt ra xem xét, giải quyết.

Cáo trạng số 169/CT-VKS-HS ngày 12/8/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Nguyễn Minh C về các tội “Sử dụng con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm b khoản 3 Điều 341 và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự

Tại phi n tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một trong phần tranh luận giữ nguy n quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Minh C đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Minh C mức hình phạt từ 03 năm đến 03 năm 03 tháng tù.

- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Minh C mức hình phạt từ 07 năm đến 08 năm tù.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt của hai tội đối với bị cáo theo qui định pháp luật.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Vƣơng Quốc B đã nhận lại số tiền 450.000.000 đồng và không còn ý kiến, y u cầu gì khác n n không đặt ra xem xét, giải quyết.

- Về biện pháp tƣ pháp: Không có.

Bị cáo Nguyễn Minh C không có ý kiến tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tr n cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phi n tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra vi n, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát vi n trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phi n tòa, bị cáo, ngƣời tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

Tại phi n tòa, bị cáo Nguyễn Minh C khai nhận: Vào ngày 12/7/2018 Nguyễn Minh C và Công ty TNHH MTV Du lịch Minh N ký kết hợp đồng thu xe ô tô hiệu Toyota Innova màu bạc biển số 61A-218.XX; Thời hạn thu là 15 ngày kể từ ngày 12/7/2018 đến ngày 25/7/2018; giá thuê là 800.000 đồng/ngày. Quá trình sử dụng xe do cần tiền để trả khoản nợ 30.000.000 đồng cho đối tƣợng t n P n n Cảnh nảy sinh ý định thu ngƣời làm giả Giấy chứng nhận đăng ký xe của xe ô tô biển số 61A-218.XX mang tên Nguyễn Minh C với mục đích là sử dụng giấy giả này để mang xe ô tô biển số 61A-218.XX cầm cố lấy tiền trả nợ và ti u xài cá nhân. C tìm kiếm thông tin tr n mạng Internet và li n hệ đƣợc với 01 ngƣời nam (Không rõ lai lịch và địa chỉ li n hệ) nhận làm giấy tờ giả n n C đặt làm giả Giấy chứng nhận đăng ký xe của xe ô tô biển số 61A-218.XX với giá 2.500.000 đồng. Sau đó C sử dụng Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả (số 012514 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bình Dƣơng cấp ngày 25/4/2015 cho xe ô tô hiệu Toyota Innova màu bạc, biển số 61A-218.XX (số khung RL4XW42G5F9416808; số máy 1TR7979129) mang tên Nguyễn Minh C để thế chấp cho ông Vƣơng Quốc B (chủ tiệm cầm đồ Bình T) với số tiền 450.000.000đ (Bốn trăm năm mƣơi triệu đồng) C đem tiền đi trả nợ rồi bỏ trốn khỏi địa phƣơng đến ngày 13/02/2019 bị cáo cảnh đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một đầu thú.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với bi n bản hỏi cung bị can, lời khai của bị hại, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ li n quan, kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Với hành vi dùng Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả (số 012514 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bình Dƣơng cấp ngày 25/4/2015 cho xe ô tô hiệu Toyota Innova màu bạc biển số 61A-218.XX (số khung RL4XW42G5F9416808; số máy 1TR7979129) mang t n Nguyễn Minh C giả để lừa dối ông Vƣơng Quốc B thế chấp chiếc xe ô tô nói tr n nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền 450.000.000đ (Bốn trăm năm mƣơi triệu đồng) mà bị cáo Nguyễn Minh C thực hiện đã hội đủ yếu tố cấu thành tội tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” đƣợc qui định tại điểm b khoản 3 Điều 341 và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” đƣợc qui định tại điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo với tội danh và điều khoản nhƣ tr n là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phƣơng nơi xảy ra vụ án đồng thời xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của Nhà nƣớc, gây mất uy tín của các Cơ quan nhà nƣớc, làm mất lòng tin của nhân dân. Về nhận thức, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật chỉ vì lƣời lao động, vì lợi ích của bản thân mà bị cáo đã bất chấp sự trừng phạt của pháp luật thực hiện hành vi phạm tội với l i cố ý trực tiếp, sau khi phạm tội bị cáo bỏ trốn gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra giải quyết vụ án. Do vậy, đối với bị cáo cần có mức hình phạt nghiêm, tƣơng xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo đồng thời cũng nhằm phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng nhƣ tại phi n tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có nhân thân tốt chƣa có tiền án, tiền sự, bị cáo đã tác động gia đình bồi thƣờng số tiền 450.000.000 đồng cho ông Vƣơng Quốc B, ông B có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; cha bị cáo ông Nguyễn Văn C là thƣơng binh đang hƣởng chế độ chính sách ngƣời có công cách mạng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đƣợc quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự mà Hội đồng xét xử sẽ xem xét áp dụng khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Đối chiếu với tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, căn cứ vào nhân thân bị cáo xét mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp n n Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Vƣơng Quốc B đã nhận lại số tiền 450.000.000 đồng và không còn ý kiến, y u cầu gì khác n n Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Quá trình điều tra ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị B (cha mẹ ruột của bị cáo C) đã bồi thƣờng cho bị hại ông Vƣơng Quốc B số tiền 450.000.000 đồng. Hiện nay ông C, bà B không y u cầu bị cáo C phải trả lại số tiền tr n n n Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết trách nhiệm dân sự của bị cáo Nguyễn Minh C đối với ông C, bà B.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ tr n;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 136, 260 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuy n bố bị cáo Nguyễn Minh C phạm tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

1./ Về hình phạt:

1.1. Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh C 03 (ba) năm tù.

1.2. Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh C 07 (bảy) năm tù.

Áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự: Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung 10 (mƣời) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/02/2019.

2./ Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét, giải quyết.

3./ Về án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Minh C phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan đến vụ án đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc ni m yết công khai./.

Cỡ chữ