vanban.org

Bản án 186/2025/DS-PT — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

TAND tỉnh Cà Mau Tuyên án 13/05/2025 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 13/05/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Hoàng A. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 41/2025/DS – ST ngày 12 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hoàng A về việc yêu cầu ông Trần Văn B và bà Nguyễn Thị N bồi thường thiệt hại số tiền 726.088.000đ (bảy trăm hai mươi sáu triệu không trăm tám mươi tám ngàn đồng). Về án phí dân sự: ông Nguyễn Hoàng A phải chịu 33.043.500đ (ba mươi ba triệu không tră… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Nguyễn Hoàng A - Trầ Văn B"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Hoàng A. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 41/2025/DS – ST ngày 12 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 186/2025/DS-PT
Ngày 13 -5 - 2025
V/v tranh chấp bồi thường thiệt hại do tài
sản bị xâm phạm

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hà

Các Thẩm phán:

Bà Đinh Cẩm Đào

Bà Châu Minh Hoàng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Phương Linh, là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 84/2025/TLPT-DS ngày 26 tháng 3 năm 2025, về việc “Tranh chấp đòi bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 41/2025/DS-ST ngày 12 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành huyện Đầm Dơi bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2025/QĐ-PT ngày 24 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: ông Nguyễn Hoàng A, sinh năm 1972 (có mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp M, xã N, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: ông Đặng Huỳnh Q, là luật sư của Văn phòng luật sư Đặng Huỳnh Q thuộc Đoàn luật sư tỉnh C (có mặt).

- Bị đơn:

1. Ông Trần Văn B, sinh năm 1950 (có mặt).

2. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1950 (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của bà N: Anh Trần Chí T, sinh năm 1987 (có mặt).

Cùng địa chỉ cư trú: ấp M, xã N, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông B: ông Trần Hoàng H – là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C (có mặt).

- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Hoàng A là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

-Nguyên đơn, ông Nguyễn Hoàng A trình bày: Ngày 16/9/2024, ông B đưa cơ giới vào cải tạo vuông tôm của ông B nhưng do ông B không gia cố bờ bao ngay tại vị trí cơ giới vào dẫn đến ngày 18/10/2024 nước triều cường dâng cao bờ vuông của ông B bị bể làm nước tràn vào ao nuôi tôm của ông B và tràn sang ao nuôi tôm công nghiệp của ông Hoàng A gây thiệt hại làm cho 03 ao tôm công nghiệp đang nuôi được 36 ngày và 04 ao lắng bị ngập nước. Sau khi bị nước tràn vào ông Hoàng A vẫn tiếp tục xử lý nước và gia cố bờ bao để tiếp tục nuôi tôm cho đến ngày 11/11/2024 ông Hoàng A đã thu hoạch 02 ao tôm được số tiền 483.173.000 đồng. Do việc nước tràn vào ao tôm nên số tiền thu hoạch tôm so với ước tính ban đầu nếu nước không tràn vào ao tôm nên ông Hoàng A yêu cầu vợ chồng ông B, bà N phải bồi thường thiệt hại số tiền là 726.000.000 đồng.

Cụ thể như sau:

Tiền thức ăn tôm, thuốc thủy sản là 528.261.000 đồng.

Tiền thuốc xử lý môi trường 147.000.000 đồng.

Tiền sửa chữa mô tơ và máy biến tần 57.000.000 đồng.

Tiền điện 2,5 tháng 33.000.000 đồng.

Tiền thuê nhân công 02 tháng 14.000.000 đồng.

Tiền sửa chữa ao 50.000.000 đồng.

Tiền thiệt hại tôm nuôi 380.000.000 đồng.

Tổng số tiền 1.209.261.000đ trừ số tiền thu hoạch tôm 483.173.000đ bằng 726.088.000đ.

-Bị đơn, ông Trần Văn B trình bày: Vào ngày 20/6/2024, ông B thuê cơ giới vào để cải tạo vuông tôm của ông. Đến ngày 18/10/2024 nước thủy triều dâng cao dẫn đến bờ vuông của ông bị bể một phần bờ chiều ngang khoản 5m làm nước tràn vào vuông ông và tràn sang ao tôm công nghiệp của ông Hoàng A nhưng sau đó ông Hoàng A vẫn tiếp tục nuôi tôm đến ngày 11/11/2024 thì thu hoạch tôm. Ông B xác định tại thời điểm nước thủy triều dâng cao thì có 10 hộ dân ở trong khu vực ấp M, xã N bị bể bờ, không phải do ông đưa cơ giới vào cải tạo đất dẫn đến bể bờ. Do đó, ông B không đồng ý bồi thường thiệt hại theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 41/2025/DS-ST ngày 12 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi quyết định:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hoàng A về việc yêu cầu ông Trần Văn B và bà Nguyễn Thị N bồi thường thiệt hại số tiền 726.088.000 đồng.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 24/02/2025, ông Nguyễn Hoàng A kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng A.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Về thủ tục tố tụng, việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án, của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của của ông Nguyễn Hoàng A. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 41/2025/DS-ST ngày 12 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tại phiên toà ông Nguyễn Hoàng A vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, lý do phía ông Trần Văn B cải tạo đưa cơ giới vào vuông nhưng khi làm xong đắp bờ không gia cố cẩn thận nên bể bờ nước tràn vào vuông của ông B và tràn vào ao tôm của ông gây thiệt hại.

Xét nội dung kháng cáo của ông Nguyễn Hoàng A, Hội đồng xét xử xét thấy:

Ông Trần Văn B thuê ông Trịnh Hoàng T1 đưa cơ giới vào để cải tạo vuông tôm của ông B vào ngày 20/6/2024 âm lịch (Dương lịch là ngày 25/7/2024), có giấy xác nhận của ông T1 về việc hợp đồng cải tạo vuông tôm

( BL 04). Đến ngày 18/10/2024 dương lịch thì do nước thủy triều dâng cao nên một phần đất của ông B bị sạt lỡ chiều ngang khoản 5m chiều dài khoản 6 mét dẫn đến nước tràn vào vuông tôm của ông B và ảnh hưởng sang đất nuôi tôm công nghiệp của ông Hoàng A. Ông B và ông Hoàng A đều thừa nhận phần đất của ông B bị bể là do nước thủy triều dâng cao, còn việc ông B đưa cơ giới vào cải tạo tôm từ ngày 20/6/2024 đến ngày 18/10/2024 nước thủy triều dâng thì phần đất của ông B mới bị sạt lỡ. Vì vậy, lỗi dẫn đến việc sạt lỡ đất vuông tôm của ông B không phải xảy ra ngay sau khi ông B đưa cơ giới vào để cải tạo vuông tôm mà do mực nước thủy triều dâng. Theo báo cáo số 772/BC – UBND, ngày 18/10/2024 của Ủy ban nhân dân xã N, huyện Đ xác định thời gian xảy ra sạt lỡ đất vuông tôm của ông B thì trên địa bàn xã N có 03 vụ việc sạt lỡ đất vuông do thủy triều dâng cao. Ngoài ra trên địa bàn còn 9 hộ dân khác cũng bị ảnh hưởng do sạt lỡ đất ở đường cáp ngầm thông ra cửa biển thuộc khu điện gió 1A, thuộc ấp H, xã N Như vậy, việc nước thủy triều dâng làm sạt lỡ đất trong khu vực xã N vào ngày 18/10/2024 không phải chỉ có riêng hộ ông B bị sạt lỡ đất là do đưa cơ giới vào cải tạo vuông tôm vào ngày 20/6/2024.

Tại biên bản ngày 18/10/2024 của Ủy ban nhân dân xã N chỉ xác định việc sạt lỡ đất của ông B vào ngày 18/10/2024 là do triều cường dâng, dẫn đến sạt lỡ nhiều nơi (BL 25) việc ông Hoàng A chỉ kê khai ước tính thiệt hại do bị ảnh hưởng của nước dâng, nhưng thực tế ông Hoàng A vẫn tiếp tục nuôi tôm đến ngày 11/11/2024 thì thu hoạch tôm được số tiền 483.173.000 đồng, ông Hoàng A trình bày tại toà việc xác định thiệt hại là do ông tự ước lượng với số tôm thả vào nuôi và số tôm thu hoạch thiệt hại 41%, thiệt hại do sửa chữa máy móc thiết bị là 57.300.000 đồng. Trong khi đó, ông Hoàng A cũng thừa nhận mùa nuôi tôm trước thất bại, không đạt nên tiếp tục nuôi, sau khi sự việc xảy ra, ông Hoàng A không tiến hành thu hoạch tôm mà tiếp tục nuôi thêm 26 ngày mới thu hoạch. Khi thiệt hại ông Hoàng A không yêu cầu cơ quan chuyên môn giám định nguyên nhân dẫn đến tôm chết, cũng như không yêu cầu chính quyền địa phương lập biên bản về số lượng tôm chết thực tế cũng như thiệt hại máy móc như thế nào mà tự sửa chữa và tiếp tục nuôi tôm. Như vậy, chưa đủ cơ sở xác định mức độ thiệt hại của ông Hoàng A do nguyên nhân nước từ vuông ông B tràn qua dẫn đến thiệt hại tôm chết cũng như nguyên nhân vì sao nuôi tôm không đạt là do lỗi của ông B. Do đó bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại của ông Hoàng A là có cơ sở

Tại phiên tòa phúc thẩm Nguyễn Hoàng A không có chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên không cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau là phù hợp nên được chấp nhận.

Án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên ông Nguyễn Hoàng A phải chịu.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;

Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Hoàng A. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 41/2025/DS – ST ngày 12 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hoàng A về việc yêu cầu ông Trần Văn B và bà Nguyễn Thị N bồi thường thiệt hại số tiền 726.088.000đ (bảy trăm hai mươi sáu triệu không trăm tám mươi tám ngàn đồng).

Về án phí dân sự: ông Nguyễn Hoàng A phải chịu 33.043.500đ (ba mươi ba triệu không trăm bốn mươi ba nghìn năm trăm đồng), đã nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 21.991.000đ (hai mươi mốt triệu chín trăm chín mươi mốt nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002100 ngày 07 tháng 11 năm 2024 và biên lai thu số 0002339 ngày 16 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi được đối trừ, ông Hoàng A còn phải nộp số tiền 11.052.500đ (mười một triệu không trăm năm mươi hai nghìn năm trăm đồng).

Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Hoàng A phải chịu 300.000 đồng, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng đã dự nộp vào ngày 24 tháng 02 năm 2025, biên lai số 0002694 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ