- Tranh chấp gì? "Ma túy - phạm tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy (điều 253 Luật sửa đổ…"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Lê Bá Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số:186/2025/HS-ST Ngày 31-12-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰ 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Hồng Phúc
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hải và ông Nguyễn Văn Tám
- Thư ký phiên tòa: Ông Khuất Cao Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Thụy - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm Thụ lý số 178/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 215/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 12 năm 2025, đối với bị cáo:
Lê Bá Q, sinh ngày11-4-1995, tại Thành phố Hồ Chí Minh; CCCD 079095004697, cấp ngày 27/10/2022; Nơi thường trú: 1/41 Ấp Đồng Tranh, xã Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở khi bị bắt: 187/58 Lê Lợi, phường Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh. Trình độ văn hóa: 02/12; Nghề nghiệp: Thợ hồ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Lê Văn T, sinh năm 1966; Con bà: Dương Thị H, sinh năm 1969; Vợ Nguyễn Thị Xuân Y, sinh năm 1996; bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2014 nhỏ sinh năm 2019.
- Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt ngày 15-8-2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Phước Thắng - Trại giam số 01, Công an Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Lê Bá Q sử dụng và nghiện ma túy từ năm 2024 cho đến nay. Sáng ngày 22-7-2025 Q có nhu cầu sử dụng ma túy, bị cáo Q dùng điện thoại liên lạc với người bán ma túy tên D qua ứng dụng FaceBook có tên là “Thanh Phong” hỏi mua 100.000đ ma túy. Bị cáo mượn xe mô tô biển số 72C2-417.30 của anh Nguyễn Phi Hải gần khu Q ở đi đến khu vực cuối đường Trần Xuân Độ, phường Vũng Tàu gặp Duy để mua một gói ma túy mục đích để sử dụng.
Chiều cùng ngày bị cáo Q tiếp tục mua 01 gói ma túy của D với giá 150.000đ. Đến khoảng 20 giờ 40 phút bị cáo Quân chay tới cuối đường Trần Xuân Độ, phường Vũng tàu, Thành phố Hồ Chí Minh hỏi mượn D bộ dụng cụ sử dụng ma túy thì bị lực Công an kiểm tra phát hiện, bắt quả tang bị cáo Quân về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, tang vật là gói ma túy chưa sử dụng.
Căn cứ Kết luận giám định số 1680/KL-KTHS-MT, ngày 31-7-2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh: 01 (một) gói nilon được hàn kín bên trong có chứa chất kết tinh không màu, trong suốt có khối lượng 0,1886 gam là chất ma túy loại Methamphetamine.
Tại Cơ quan điều tra, bị can Lê Bá Q đã khai nhận toàn bộ hành vi như trên.
Tang vật của vụ án khi bị cáo Q bị bắt, bị thu giữ:
- 01 (một) gói nylon hàn kín chứa chất kết tinh không màu, trong suốt, có khối lượng 0,1886 gam, là ma túy, loại Methamphetamine. (Mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định).
- 01 (một) tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng
- 1.500.000 đồng (tiền mặt);
- 01 điện thoại di động hiệu Oppo A31, số IMEI1: 860646042589170, IMEI2: 860646042589209, gắn thẻ SIM số thuê bao 0339.079.419;
- 01 xe mô tô biển số 72C2-417.30, số khung: RLHJK0328MZ035897, số máy: JK03E7541258;
Các vật chứng còn lại được chuyển đến Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11, Thành Phố Hồ Chí Minh quản lý, chờ xử lý.
Cáo trạng số 41/CT-VKS ngày 10-12-2025, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê Bá Q, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1, Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
[1] Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên Tòa, giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo Lê Bá Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Bị cáo Lê Bá Q đã khai nhận về toàn bộ hành vi của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo được áp dụng một tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Bá Q từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự, điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Đối với 01 (một) gói nylon hàn kín chứa chất kết tinh không màu, trong suốt, có khối lượng 0,1886 gam, là ma túy, loại Methamphetamine tang vật của vụ án; mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Oppo A31, số IMEI1: 860646042589170, IMEI2: 860646042589209 và 01 thẻ SIM số thuê bao 0339.079.419.
- Tuyên, trả lại số tiền 1.505.000đ( một triệu năm trăm lẻ năm ngàn đồng) cho bị cáo Lê Bá Quân;
- Tuyên, trả lại 01 xe mô tô Honda Vision biển số 72C2-417.30, số khung: RLHJK0328MZ035897, số máy: JK03E7541258 cho anh Nguyễn Phi Hải.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo không có công việc ổn định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên Tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Lê Bá Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:
Khoảng 20 giờ 40 phút ngày 22 tháng 7 năm 2025, trước số nhà 01 đường Trần Xuân Độ, phường Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh bị cáo Lê Bá Q bị lực lượng Công an do tổ công tác 363 số 30 Công an Thành phố Hồ Chí Minh, phát hiện bắt quả tang bị cáo Q tàng trữ trái phép ma túy có khối lượng 0,1886 gam, là loại Methamphetamine, mục đích để bị cáo Q sử dụng.
Bị cáo Lê Bá Q là người trưởng thành, sinh sống, cư trú, sinh sống tại phường Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh nơi luôn có thông tin trên báo, đài và các tổ chức xã hội tuyên truyền về ma túy; ma túy là chất cấm mua, bán sử dụng do đó bị cáo Q phải nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân.
Hành vi của bị cáo thực hiện tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 0,1886 gam, là loại Methamphetamine đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, đúng như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Đối với người thanh niên bán ma túy cho Q, tên gọi là Duy có FaceBook Thanh Phong; nay đã xác định được là Nguyễn Thanh Phong đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục điều tra, để xử lý theo quy định pháp luật.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng đối với hành vi phạm tội của bị cáo:
Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến việc quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy; gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội. Nghiện ma túy cũng là khởi nguồn của các tội phạm khác như; mua bán trái phép chất ma túy; trộm cắp tài sản và nhiều tội phạm khác bắt nguồn từ việc nghiện ma túy.
Hành vi của bị cáo Q cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian, để bị cáo nhận thức việc tàng trữ trái phép chất ma túy đã vi phạm pháp luật hình sự; nên áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm đối với hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung về tội phạm.
Về hình phạt bổ sung: Tại phiên Tòa, bị cáo Q khai báo làm thợ hồ, công việc không ổn định, không thường xuyên; xét thấy, thu nhập không ổn định và không xác định được tài sản của bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình tố tụng bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; do đó, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng vụ án:
Đối với 01 (một) gói nylon hàn kín chứa chất kết tinh không màu, trong suốt, có khối lượng 0,1886 gam, là ma túy, loại Methamphetamine tang vật của vụ án; mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Tại phiên Tòa bị cáo Q khai báo; bị cáo dùng điện thoại để liên lạc với người bán ma túy tên D; hội đồng xét xử xét thấy, chiếc điện thoại bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội đủ căn cứ tịch thu nộp ngân sách nhà nước (01(một) điện thoại di động hiệu Oppo A31, số IMEI1: 860646042589170, IMEI2: 860646042589209 và 01 thẻ SIM số thuê bao 0339.079.419.
Đối với số tiền 1.505.000đ ( một triệu năm trăm lẻ năm ngàn đồng) bị thu giữ, bị cáo Q khai tiền công làm hồ bị cáo mới được nhận xét thấy không liên quan đến vụ án do đó tuyên trả lại cho bị cáo Quân.
Đối với chiếc xe mô tô biển số 72C2-417.30, số khung: RLHJK0328MZ035897, số máy: JK03E7541258, người đứng tên giấy đăng ký xe là là chị Nguyễn Thanh V, sinh năm 1979; trú tại 54/14/57 Nguyễn Bỉnh Khiêm, phường Tam Thắng, Thành phố Hồ Chí Minh.
Chị V cho biết, chị mua chiếc xe mô tô hiệu Hoada Vision vào năm 2021, sử dụng một thời gian, sau đó bán chiếc xe cho anh Nguyễn Phi H nhưng chưa sang tên. Chị V không có ý kiến và yêu cầu gì đối với tài sản đã bán cho anh H.
Tại phiên Tòa, người liên quan Nguyễn Phi H cho biết; năm 2023 anh Hải mua chiếc xe của chị Nguyễn Thanh V nhưng chưa sang tên. Do quen biết bị cáo Q anh H thấy vợ, chồng Q ngèo không có phương tiện đi làm nên anh H đã cho Q mượn xe để Q có phương tiện đi làm. Anh H không biết bị cáo Q dùng xe làm phương tiện đi mua ma túy, do đó anh H xin được nhận lại tài sản là chiếc xe Honda Vision biển kiểm soát 72C2-417.30, số khung: RLHJK0328MZ035897, số máy: JK03E754125851.
Hội đồng xét xử nhận thấy; qua lời khai của chị Nguyễn Thanh V; lời khai của anh Nguyễn Phi H và lời khai của bị cáo Q; xét thấy phương tiện bị cáo Q dùng đi mua ma túy do bị cáo mượn của anh Hải do đó có căn cứ tuyên trả lại 01 xe Honda Vision biển kiểm soát 72C2-417.30, số khung: RLHJK0328MZ035897, số máy: JK03E754125851 cho anh Nguyễn Phi H.
Các vật chứng hiện cơ quan Phòng Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số 35/BB-PTHADS ngày 25/12/2025 và Biên lai thu số 0012416 ngày 25/12/2025.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 50 điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[1] Tuyên bố: Lê Bá Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt: Lê Bá Q 36 (ba sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 15/8/2025.
[2] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
+Đối với 01 (một) gói nylon hàn kín chứa chất kết tinh không màu, trong suốt, có khối lượng 0,1886 gam, là ma túy, loại Methamphetamine tang vật của vụ án; mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
+Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước (01(một) điện thoại di động hiệu Oppo A31, số IMEI1: 860646042589170, IMEI2: 860646042589209 và 01 thẻ SIM số thuê bao 0339.079.419.
+Tuyên, trả lại số tiền 1.505.000đ( một triệu năm trăm lẻ năm ngàn đồng) cho bị cáo Lê Bá Q;
+Tuyên, trả lại 01 xe Honda Vision biển kiểm soát 72C2-417.30, số khung: RLHJK0328MZ035897, số máy: JK03E754125851 cho anh Nguyễn Phi H.
Các vật chứng Các vật chứng hiện cơ quan Phòng Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số 35/BB-PTHADS và Biên lai thu số 0012416 cùng ngày 25/12/2025.
[3] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Lê Bá Quân phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).
[4] Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân Thành phố Hồ Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Nơi nhận:
TM .HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND Thành phố HCM;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND khu vực 11, Tp Hồ Chí Minh;
- Công an Thành phố Hồ Chí Minh
(Phòng PV06, PC1);
- THADS Tp HCM;
- Phân trại tạm giam Phước Thắng;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Trinh Hồng Phúc
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân Tp HCM; - Viện kiểm sát nhân dân Tp HCM; - Công an Tp HCM PV06; PC10 ; - Viện kiểm sát nhân dân Tp.Vũng Tàu; - Chi cục THADS Tp.Vũng Tàu; - Bị cáo; Lưu hồ sơ vụ án. |